BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Rss

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng Về Biển Đảo Quê Hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng Về Biển Đảo Quê Hương. Hiển thị tất cả bài đăng
22/2/13
Chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa theo luật pháp quốc tế

Chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa theo luật pháp quốc tế


Tác giả : Vân Thanh

Do Trung Quốc và Đài Loan sử dụng các luận cứ tương tự cho yêu sách của mình đối với hai quần đảo, chúng tôi sẽ trình bày chung các luận cứ này trong phần dưới đây.

Chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa - Blog tin tức,chính luận,biển đảo

1. Luận thuyết của Trung Quốc dựa trên quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hữu hiệu đối với lãnh thổ vô chủ (terra nullius)
Trung Quốc khẳng định họ đã phát hiện ra các quần đảo sớm nhất, từ thời Hán Vũ Đế (thế kỷ II trước CN). Tuy nhiên, để chứng minh cho luận cứ này, Trung Quốc đưa ra các tài liệu không phải là chính sử được viết bởi các cơ quan nhà nước. Theo Nguyễn Hồng Thao, “phần lớn chúng là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa lý của người xưa liên quan không chỉ tới lãnh thổ Trung Quốc mà còn tới lãnh thổ của các nước khác.” Hơn nữa, phần lớn các tài liệu nói đến các quần đảo với những tên gọi rất khác nhau, làm cho mọi xác minh không được chắc chắn.

Mặt khác, tác giả Phạm Hoàng Quân cho biết, theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách khoa toàn thư do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn thành năm 1706, trong phần Chức Phương điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính), các địa đồ như Chức Phương tổng bộ đồ (địa đồ số 1), Quảng Đông cương vực đồ (địa đồ số 157), Quỳnh Châu phủ cương vực đồ (địa đồ số 167) đều không ghi nhận các quần đảo xa hơn đảo Hải Nam ngày nay. Theo Quảng Đông thông chí vẽ đời Gia Tĩnh (1522-1566) thì phần hải đảo cũng chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam).
Trung Quốc cũng sử dụng những bằng chứng về khảo cổ và việc tìm thấy vết tích tiền và đồ cổ từ thời Vương Mạng để khẳng định sự có mặt của ngư dân Trung Quốc trên các quần đảo. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác của ngư dân Trung Quốc là các hoạt động tư nhân, không mang lại hiệu lực pháp lý của quyền chiếm cứ hiệu quả mà luật quốc tế đòi hỏi.
Để chứng minh việc thực thi chủ quyền trên các quần đảo từ lâu đời, Trung Quốc đưa ra các sự kiện sau:
- Các cuộc tuần tra quân sự đến vùng biển quần đảo Hoàng Sa từ thời nhà Tống (960-1127). Khẳng định này dựa trên cơ sở Vũ Kinh tổng yếu (chương trình chung về quân sự có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông). Theo Monique Chemillier-Gendreau, tài liệu này chỉ cho thấy có các đó là các hành trình thăm dò địa lý tới tận Ấn Đô Dương, và xác nhận Trung Quốc có biết đến quần đảo Hoàng Sa nhưng không minh chứng một sự chiếm hữu nào.
- Vào thế kỷ XIII, Hoàng đế nhà Nguyên ra lệnh cho nhà thiên văn học Quách Từ Kính thực hiện các quan trắc thiên văn, trong đó có một số quan trắc từ Hoàng Sa. Tuy nhiên, các quan trắc này được thực hiện một phần trong lãnh thổ Trung Quốc, một phần ngoài lãnh thổ, mang tính chất nghiên cứu khoa học, không đủ để tạo nên danh nghĩa chủ quyền.
- Vào khoảng các năm 1710-1712, phó tướng thủy quân Quảng Đông là Ngô Thăng đã thực hiện một cuộc tuần biển đến Hoàng Sa. Tuy nhiên, theo Monique Chemillier-Gendreau, xem xét trên bản đồ thì lộ trình đi tuần chỉ là một con đường vòng quanh đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa.
- Năm 1883, khi tàu của Đức thực hiện nghiên cứu khoa học tại quần đảo Trường Sa, chính quyền Quảng Đông đã phản đối. Nhưng khi danh nghĩa của một nhà nước chưa được xác lập vững chắc và lâu dài, việc phản đối này chỉ mang tính chất ngoại giao và không có giá trị pháp lý.
Các bằng chứng lịch sử của Trung Quốc về quyền phát hiện và chiếm cứ hiệu quả hai quần đảo rõ ràng là rất ít ỏi, không vững chắc và không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của luật quốc tế. “Chúng không chứng minh được một sự chiếm cứ thông thường, một sự quản lý hành chính hữu hiệu sự kiểm soát chủ quyền”.
Cân nhắc các luận cứ lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc về quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hiệu quả, giáo sư người Pháp Yves Lacoste cho rằng: “dù sao đi nữa, luận cứ của Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn luận cứ của Trung Quốc.”
2. Các luận cứ của Trung Quốc trong thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có những nỗ lực đầu tiên để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1909, đô đốc Trung Quốc là Lý Chuẩn thực hiện một cuộc đổ bộ nhỏ (trong 24 giờ) lên quần đảo này. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. (Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?). Nước Pháp đại diện cho An Nam không có phản ứng gì trước cuộc đổ bộ này vì họ cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân dịp chuyến thám sát.
Năm 1921, chính quyền dân sự Quảng Đông sát nhập hành chính các đảo Hoàng Sa vào Nhai huyện. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước vì khi đó chính quyền Quảng Đông không được cả chính phủ trung ương Trung Quốc lẫn các cường quốc công nhận.
Năm 1937, trước sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo “nằm ngoài khơi Đông Dương”, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt chúng dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan).
Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật chiếm đóng.
Như vậy, cho đến khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945, ngoài nỗ lực ban đầu trong việc biểu thị chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không thể hiện được một sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính hiệu quả trên các đảo. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc hoàn toàn không hề có một ảnh hưởng nào.
3. Thời kỳ sau 1945
Sau khi đầu hàng vào năm 1945, Nhật Bản rút khỏi Đông Dương và các quần đảo. Sau khi Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa vào tháng 6 năm 1946, quân đội Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) vào tháng 1 năm 1947. Pháp lập tức phản đối việc chiếm hữu trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm cho đến khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm đóng quân sự vào năm 1974.
Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền.
Tháng 10 năm 1949, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Tháng 5 năm 1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rời khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa.
Tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa quân đến thay thế các đơn vị của Pháp tại Hoàng Sa. Nhưng khi đó chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã kín đáo cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh).
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm này (tháng 1 năm 1974) „Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó.”
Tháng 2 năm 1988, Trung Quốc gửi quân đội đến một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Tháng 3 năm 1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm 6 đảo của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Trung Quốc là quốc gia duy nhất yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa nhưng trên thực tế không kiểm soát bất cứ đảo nào cho mãi đến tận năm 1988.
Tháng 4 năm 1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 5 năm 1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa.
Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ của Phillippines trên quần đảo Trường Sa.
Có thể thấy phương pháp chủ yếu của Trung Quốc là dùng vũ lực để chiếm hữu các đảo. Tuy nhiên, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24 tháng 10 năm 1970 cũng đã ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp.” Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
4. Các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giá trị pháp lý:
Trung Quốc luôn lập luận rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong thời gian chiến tranh 1954-1975. Các tuyên bố đó là:
- Ngày 15 tháng 6 năm 1956 thứ trưởng Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm đã nói với thường vụ viên của đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội rằng các quần đảo này về mặt lịch sử là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra được biên bản cuộc họp mà họ cho rằng trong đó Ung Văn Khiêm đã nói điều trên.
- Công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 tán thành tuyên bố về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc mà không có bảo lưu gì đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Ngày 9 tháng 5 năm1965, khi Mỹ leo thang chiến tranh tại Việt Nam và ấn định những vùng chiến thuật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Tuy nhiên, các tuyên bố của VNDCCH có khiến cho nước Việt Nam thống nhất sau 1975 mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không đòi hỏi những nghiên cứu sâu hơn về luật quốc tế. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt quan điểm của mình.
Trong thời gian chiến tranh 1954-1975 có hai quốc gia Việt Nam đồng thời tồn tại là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam. Đây cũng là quan điểm của nhiều luật gia quốc tế như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin.
Sau Hiệp ước Geneve năm 1954, dựa theo nhận thức và thực tế quản lý của hai quốc gia, quốc gia kế thừa chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là VNCH. Trên thực tế, như đã nêu ở phần trên, VNCH đã liên tục kiểm soát, quản lý hành chính và khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo cho đến tận khi bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc quản lý quần đảo Trường Sa vẫn tiếp tục được duy trì đến thời điểm 30 tháng 4 năm 1975.
Công hàm của thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 cũng như các tuyên bố khác của VNDCCH không ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Các hành vi của VNDCCH cùng lắm chỉ có thể gây ra các ràng buộc và hiệu quả pháp lý cho chính mình mà thôi. Vậy các ràng buộc và hiệu quả pháp lý đó có thể là gì?
Các tuyên bố của VNDCCH là hành vi đơn phương. Theo luật quốc tế, một hành vi đơn phương hay một lời hứa cần có những điều kiện trước khi có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Các điều kiện chính là: a) cần xét đến bối cảnh của hành vi tuyên bố đó; b) bên có tuyên bố cần thể hiện rõ ràng ý chí muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố của mình; c) bên kiện quốc gia tuyên bố phải có hành động dựa vào tuyên bố đó và phải chứng minh mình đã bị thiệt hại do tuyên bố đó, hoặc quốc gia tuyên bố đã hưởng lợi từ tuyên bố này. Ngoài ra, nhiều bản án của Tòa án Công lý Quốc tế còn đòi hỏi các tuyên bố này phải mang tính chất liên tục và trường kỳ.
Có thể dễ dàng thấy rằng các tuyên bố của VNDCCH thiếu hầu hết các điều kiện để có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Trung Quốc không có hành động nào dựa vào tuyên bố của VNDCCH và VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì từ các tuyên bố đó.
Như vậy, sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người kế thừa hai nhà nước VNCH và VNDCCH, đã kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ VNCH cùng các tuyên bố đơn phương không mang tính chất ràng buộc và hiệu quả pháp lý từ VNDCCH, và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH
18/1/13
BẮC KINH ĐANG NHẮM VÀO TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM CHỨ KHÔNG PHẢI SENKAKU

BẮC KINH ĐANG NHẮM VÀO TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM CHỨ KHÔNG PHẢI SENKAKU

Theo dõi những gì đang diễn ra tại Senkaku người ta thấy căng thẳng ngày càng leo thang và dường như một cuộc chiến tranh Trung Nhật là điều khó tránh khỏi. Nhưng mình đồ rằng, điều đó không xảy ra. Theo mình, bản chất của vấn đề là Trung quốc đang tìm cách đánh úp, chiếm đảo ở Biển Đông của Việt Nam. Vì thế, chúng ta nên cảnh giác.Có một ai đó nói rằng, "Chiến tranh thực chất đều bắt nguồn từ lợi ích. Không có lợi ích chẳng có quốc gia nào chủ động tổ chức chiến tranh". Điều này là hoàn toàn đúng đắn.Kể từ khi đảng Dân chủ Tự do (LDP) Nhật Bản lên nắm quyền và ông Shinzo Abe làm Thủ tướng thì tình hình tranh chấp Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư căng thẳng ngày càng tăng và có vẻ như xung đột quân sự sẽ xảy ra.Trên thực tế, Nhật Bản là nước đã và đang quản lý Senkaku từ hơn 40 năm nay và quan trọng hơn là Senkaku là món hàng đặt cược quá bé nhỏ cho một cuộc chiến. Dù muốn hay không, chiến tranh cũng sẽ tàn phá nội lực của cả hai bên mà đối với Trung quốc, Senkaku dù có chiếm được cũng không thể  so sánh với những gì đã mất.Tiến hành một cuộc chiến với Nhật, Trung Quốc không xác định được thắng hay bại, vì Nhật có sức mạnh quân sự, kinh tế chẳng thua kém gì Trung Quốc thì cơ sở nào để khẳng định chiến thắng? Ngược lại, sa lầy, mất bạn và cái vé thua gần như cầm chắc trong tay. Khi đã thua Nhật, người dân Trung Quốc sẽ nghĩ gì về lãnh đạo Bắc Kinh?

Bắc kinh đang nhắm vào Việt Nam,anh ba sam,ba sam,ba sàm,dân oan,dân chủ,nhân quyền,tự do tôn giáo,ba sam,ba sàm,xuân diện,bùi hàng,việt hưng,dân oan,chủ quyền biển đảo,biểu tình,tuổi trẻ yêu nước,con người Việt Nam, tôi yêu Việt Nam,Hồ chí Minh,bác Hồ,chính trị

Tấm bản đồ của những con lừa
Các chuyên gia tâm lý đều cho rằng, chỉ xét riêng về ý chí, tinh thần chiến đấu, người Trung Quốc thua xa người Nhật. Điều này là có lý vì tâm lý người lính bị ảnh hưởng bởi chính sách con một của Trung Quốc. Chẳng có người lính nào lại sẵn sàng ra trận để cầm chắc cái chết, đem lại sự đơn côi không nơi nương tựa cho cha mẹ mình. Đó chính là tâm lý của lính Trung Quốc.Xét rộng ra, đối thủ cạnh tranh của Trung quốc trước mắt là Nga và Ấn Độ, hai ông lớn này đang ngồi ngắm và chờ đợi cả Trung quốc và Nhật bản đều rơi vào thảm họa chiến tranh. Khi điều đó xảy ra, những lợi thế chiến lược của Bắc Kinh giành được bấy lâu sẽ tan biến mà muốn có nó, phải trả giá hàng thế kỷ. Điều này là đi ngược hoàn toàn với bản tính, thói quen “tọa sơn quan hổ đấu” của người Trung Quốc. Với Trung Quốc, không bao giờ họ muốn mình là một trong 2 con hổ đấu đó.Vậy tại sao Trung Quốc lại cố gắng duy trì tình trạng căng thẳng với Nhật?Trung Quốc làm dấy lên căng thẳng với Nhật Bản, hô hào chuẩn bị chiến tranh…thực chất là “bắn một mũi tên trúng 2 đích”. Một là làm thõa mãn chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang tác động, gây sức ép không ít lên chính phủ. Đơn giản là chính phủ nuôi nó, lợi dụng nó để trục lợi thì cũng phải để cho nó sống, làm thõa mãn một ít nhu cầu của nó. Điều này, thiên hạ quen gọi là tìm cách chuyển sức ép ra bên ngoài, hay đánh lừa dư luận trong nước.Do đó, sẽ không có gì là lạ khi mà căng thẳng sẽ được Trung Quốc đẩy lên cao nữa, những cuộc tập trận lớn, hoành tráng với giả định là đánh chiếm đảo Senkaku/Điếu Ngư sẽ diễn ra trong nay mai nhằm làm cho chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc mãn nhãn. Giới lãnh đạo Bắc Kinh đâu dại nghe theo đám “diều hâu”, chủ nghĩa dân tộc như La Viện đến mức “mất quyền điều khiển”.Vậy thực chất Bắc Kinh đang nhắm đến điều gì?Nói gọn một câu là Trung Quốc đang nhắm đến chiếm gọn Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chứ không phải Senkaku.Những động thái trên Hoa Đông và Biển Đông suy cho cùng cũng là tìm cách chiếm trọn Biển Đông theo tiêu chí đường lưỡi bò. Tất nhiên không dễ.Gây căng thẳng với Nhật, Hàn hay Ấn Độ và kể cả Nga, không chỉ lên dây cót cho chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, nó góp phần xoa dịu những bất ổn như những cơn sóng ngầm trong lòng xã hội Trung Quốc, mà còn để "giương đông kích tây" đánh lạc hướng dư luận quốc tế, chờ thời để ra tay đánh úp các đảo của Việt Nam. Lần này, Trường Sa là tiêu điểm. Các bạn nên nhớ, đây mới là mục tiêu căn cốt trong chính sách bành trướng của Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay.Chúng ta đều biết, Trung Quốc chưa đủ mạnh để cùng lúc ra đòn ở cả hai vùng biển, và chỉ với một vùng Hoa Đông thôi cũng chưa đủ. Nhưng với vùng Biển Đông thì sức mạnh của Trung Quốc thì quá đủ. Tất nhiên, đánh đâu chứ đánh vào Trường Sa của Việt Nam thật không dễ chút nào. Nếu dễ thì Bắc Kinh đã làm từ lâu chứ không phải ngồi đó để thăm dò và bày trò này nọ.Mới chỉ vài ba tuần trở lại đây thôi, Bắc Kinh hung hăng hiếu chiến là thế, nhưng cũng đã phải tỏ ra lo ngại trước những bước đi của Mỹ, Hàn hay Nhật Bản. Điều mà Trung quốc cũng đặc biệt chú ý là người Nhật đã rũ bỏ tấm chăn cũ kĩ, vươn mình đứng dậy trở thành một võ sĩ Samurai thực sự với một sức mạnh quân sự ngang ngửa với Trung Quốc, nhưng lợi thế hơn hẳn ở sự đoàn kết lòng dân trong nước cũng như đoàn kết quốc tế. Những sự thay đổi này của Nhật Bản là xuất phát từ tính tự phụ, côn đồ hung hăng bất chấp đạo lý của Trung Quốc.Tham thì thâm, gieo gió ắt sẽ gặp bão. Trung quốc đang cố tình ngoác miệng ra để nuốt những gì không phải của mình  như cha ông họ đã làm. Nhưng điều đó không dễ chút nào trong bối cảnh quốc tế và khu vực đã thay đổi. Đối với Việt Nam, quốc gia nhỏ bé và khiêm tốn hơn nhiều lần so với Trung Quốc cũng không dễ dàng để cho Bắc Kinh muốn làm gì thì làm trên vùng lãnh thổ hợp pháp của mình. Đã có sự thay đổi lớn lao trong tư duy nhận thức cũng như về sức mạnh nội lực của dân tộc này về bảo vệ lãnh thổ. Lịch sử chiến thắng luôn đứng về phía chính nghĩa và người Việt Nam chưa khi nào hốt hoảng, run sợ trước những thách thức xâm lược từ phía Trung Quốc. Như thường lệ, cảnh giác trước chiêu trò mới của Bắc Kinh là điều chúng ta không khi nào được quên.

Theo Blog Tre Làng
14/1/13
Bản lĩnh Việt Nam trước thử thách an ninh chủ quyền

Bản lĩnh Việt Nam trước thử thách an ninh chủ quyền



“Kim tự tháp Ai Cập không xây được trong một đêm”, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam không phải trong một ngày mà có.

Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, dân tộc ta phải đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, đông gấp bội. Không muốn làm nô lệ thì chỉ còn cách dám đánh, biết đánh, biết thắng. Đây có lẽ là nguyên nhân chính hình thành nên bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam. 


Chiến tranh du kích, lối đánh du kích gần như là lối đánh sở trường của Việt Nam, nhưng, không có nghĩa trong lịch sử chiến thắng oai hùng của Việt Nam chỉ có những trận chiến mang tính nhỏ lẻ của lối đánh du kích mà luôn luôn có những trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh.

Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy những trận quyết chiến chiến lược mang tính đối kháng cao như trận 10 vạn quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, đánh tan 30 vạn quân Thanh là rất hiếm. Chỉ đến thời đại Hồ Chí Minh, trong 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, quân đội NDVN đã tiến hành 2 cuộc quyết chiến chiến lược mà tính đối kháng rất cao, đã khẳng định bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam ở một tầm cao mới.

Điện Biên Phủ - Quân Pháp đã xây dựng ở đó một tập đoàn cứ điểm “bất khả xâm phạm” thách thức Việt Nam tấn công. Tính đối kháng và quyết liệt đến mức Bác Hồ xác định “nếu ta thua là hết vốn”.

Chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm là ông de Castries luôn huênh hoang, rải truyền đơn “mời tướng Giáp” đến để tấn công. Tướng Giáp đã đến và với 56 ngày đêm, quân Pháp thất thủ, tướng de Castries bị bắt làm tù binh. Việt Nam ghi điểm tuyệt đối. Không những những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới mà ngay kẻ thù thua cũng “tâm phục khẩu phục”. Thua là thua bởi bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam.

Trận thứ 2, đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ từ ngày 18 – 28/12/1972 trên bầu trời Hà Nội.


Không “lịch sự” như Pháp, bằng tất cả các phương tiện chiến tranh tối tân hiện đại nhất của thế kỷ 20, đặc biệt là “pháo đài bay B52 bất khả xâm phạm” Mỹ dùng một số lượng lớn tập kích vào Hà Nội của Việt Nam khủng khiếp nhất, tập trung nhất trong lịch sử chiến tranh.

Mỹ tuyên bố đưa Việt Nam vào thời kỳ đồ đá” để buộc Việt Nam đến Pa-ri ký giấy đầu hàng. Có thể nói trận này, Mỹ áp đặt lối chơi, thời gian và địa điểm, bất chấp Việt Nam có chống trả hay không thì thắng lợi của Mỹ dễ như đi dạo.

Tính đối kháng là một mất một còn. Việt Nam không thể rời Thủ đô trở lại Tân Trào như năm 46 hoặc “chắc thắng thì đánh, không chắc thắng thì thôi” như trong trận Điện Biên Phủ. Việt Nam không còn con đường nào khác là phải chấp nhận trận chiến.

Rốt cuộc, kết quả Việt Nam đã thắng, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”. Thua trận, Mỹ không còn lý do cho rằng Việt Nam lẫn tránh, toàn chơi du kích, mưu mẹo lừa lọc…mà “tâm phục khẩu phục”...Hơn ai hết, Mỹ hiểu rằng, để chịu đựng hàng ngàn tấn bom đạn, để vít cổ siêu đài bay Hoa Kỳ thì chỉ có bản lĩnh, trí tuệ. Cũng như Pháp, Mỹ thua là thua bởi bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam.

Có thể nói, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trong chiến tranh BVTQ đã được hun đúc, vun đắp từ thế hệ này sang thế hệ khác, là kết tinh của lòng yêu nước căm thù giặc. Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam đã trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước nguy cơ, thách thức an ninh chủ quyền
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động. Đặc biệt là tình hình biển Đông đang tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định rất khó lường, thách thức đến an ninh chủ quyền biển đảo Việt Nam.

Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng chiến lược "Diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Trong tình hình đó, một lần nữa, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam đã thể hiện và phát huy cao độ trước các nguy cơ, thách thức.

Đó là bản lĩnh vững vàng của Đảng CS Việt Nam, dám làm, dám chịu trách nhiệm, Đảng đã tự phê bình nghiêm túc thẳng thắn những yếu kém, khuyết điểm, kiên quyết làm trong sạch nội bộ để vẫn mãi là “nguyên nhân mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Bản lĩnh Việt Nam là sự bình tĩnh, tự tin trước âm mưu thâm hiểm của các thế lực thù địch, trước những hành động hung hăng, hiếu chiến, ngang ngược đe dọa dùng vũ lực của thế lực bành trướng, bá quyền nước lớn.

Bản lĩnh Việt Nam là yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình không lệ thuộc, một nền hòa bình mà toàn vẹn chủ quyền không bị xâm hại, kiên quyết đấu tranh vì hòa bình dù chỉ còn cơ hội mỏng manh, nhưng không bao giờ sợ chiến tranh, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Bản lĩnh mà không có trí tuệ chẳng khác nào “hữu dũng vô mưu”. Mỹ thua trận ở Việt Nam nhưng vẫn thẳng thắn cho rằng “Nếu Việt Nam chỉ anh hùng thôi thì Mỹ đã nghiền nát Việt Nam, nhưng Việt Nam còn rất thông minh sáng tạo nên Mỹ phải thua”.

Trí tuệ Việt Nam trước hết là hoạt động đối ngoại khôn khéo để tạo thế trận có lợi trong khu vực, thêm bạn, bớt thù. Đó là sự kết hợp giữa hợp tác kinh tế với an ninh chủ quyền, dựa vào công ước quốc tế, luật biển, cùng với vị trí địa lý của mình, Việt Nam đã biến chủ quyền, quyền chủ quyền thành những địa chỉ đáng tin cậy cho hợp tác kinh tế với bạn bè, đối tác.

Đụng đến Việt Nam là đụng đến bạn bè Việt Nam, cho nên, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cho Việt Nam đấu tranh bảo vệ chủ quyền không những là lý trí mà còn cả trách nhiệm.

Thế của Việt Nam trên khu vực đã vững chắc, ổn định hơn bao giờ từ trước tới nay. Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay, Việt Nam không đứng một mình mà có nhiều sự ủng hộ quý báu của bè bạn.

Thế lấy lực làm cơ sở, do lực quyết định, cho nên khi không có sức mạnh, tiềm lực quốc phòng thì thế sẽ triệt tiêu. Bởi vậy, trí tuệ Việt Nam là sự sáng suốt, nhạy bén trong công tác tổ chức xây dựng lực lượng, hiện đại hóa Quân đội.

Dù còn nghèo, Việt Nam quyết định đưa “Hải quân, Phòng không –Không quân, Tác chiến điện tử, Radar và Thông tin liên lạc tiến thẳng lên hiện đại”.

Trong chiến tranh hiện đại, một quốc gia hùng mạnh có nền quân sự hiện đại gây ra với một quốc gia nhỏ, năng lực quốc phòng hạn chế gần như có chung một phương thức tiến hành:

Đầu tiên (tác chiến điện tử), tên lửa hành trình từ các tàu ngầm, tàu nổi trên vùng biển mở màn, tấn công vào lãnh thổ nhằm làm cho hệ thống radar phòng không, hệ thống thông tin chỉ huy liên lạc tê liệt hoặc thiệt hại nặng khiến đối phương như “mù” và “điếc”.

Tiếp theo, không quân xuất kích chiếm lĩnh, thống trị bầu trời săn diệt những mục tiêu quân sự còn lại một cách dễ dàng và đánh phá các trung tâm kinh tế, chính trị, quốc phòng…

Vì vậy, muốn chiến thắng kẻ thù không cách nào khác là phải xây dựng Hải quân, PK-KQ, Tác chiến điện tử, Radar và lực lượng thông tin liên lạc hiện đại, tinh nhuệ thiện chiến. Đây chính là mục tiêu, nhiệm vụ, hướng phòng thủ sống còn của Việt Nam trước một cuộc chiến tranh xảy ra trong tương lai.

Trí tuệ Việt Nam là không để Tổ Quốc bị bất ngờ mà trước hết là không bị bất ngờ về tầm chiến lược. Đó là sự chủ động chiến lược, là nắm chắc âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, các hình thái chiến tranh trong tương lai, từ đó sẽ có kế hoạch tổ chức, xây dựng lực lượng, bố trí lực lượng và chuẩn bị kỹ các cách đánh phù hợp.

Bài học đó chỉ có được từ máu xương mà thế hệ cha anh để lại từ trận Điện Biên Phủ trên không, rất bổ ích cho trí tuệ con cháu.

Trong hải chiến hiện đại, vị trí xuất phát tấn công của địch cũng chính là tuyến đầu của lực lượng phòng thủ. Đây là cơ sở cho chiến lược chống tiếp cận mà một quốc gia nhỏ, yếu tiến hành chống một quốc gia đi xâm lược có tiềm lực quân sự hiện đại.

Trí tuệ Việt Nam là sự nhanh nhạy, vận dụng chiến lược chống tiếp cận theo cách Việt Nam. Đó là mua sắm trang bị vũ khí ít nhưng hiện đại, nhỏ nhưng nhanh, uy lực mạnh bảo đảm sử dụng cho tác chiến hiện đại và hình thức tác chiến phi đối xứng. Hệ thống tên lửa bờ Bastion-P, tàu Gerpad, Su-30MK…là những cái tên đối phương phải nghĩ đến khi dự kiến vị trí xuất phát tấn công.

Chiến lược này Việt Nam đang tiến hành tổ chức thực hiện rất đúng hướng, khôn ngoan, nó sẽ trở nên hết sức lợi hại, sức răn đe ngăn ngừa chiến tranh trên biển không phải là nhỏ và do đó khả năng đương đầu, bảo vệ biển đảo là hoàn toàn có thể.

Có lẽ chưa bao giờ Việt Nam lại có thời gian, bình tĩnh, tự tin chuẩn bị cho phòng thủ bảo vệ Tổ quốc một cách khoa học, lớp lang như bây giờ. Trong điều kiện kinh tế còn gặp khó khăn nhưng một số lực lượng chủ chốt đối đầu với cuộc chiến tranh nếu như nó xảy ra trong tương lai đã được trang bị vũ khí phương tiện hiện đại có khả năng đủ sức đương đầu.

Tuy nhiên, vũ khí mới chỉ là yếu tố quan trọng, bố trí nó ở đâu, sử dụng nó ra sao, cách đánh như thế nào để nó phát huy hiệu quả, tác dụng…mới là quyết định sự thành bại của của cuộc chiến. Điều này lại thuộc về bản lĩnh, trí tuệ của con người, của một dân tộc.

Thế giới chẳng ai nghi ngờ về bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam. Thế giới đã từng ngưỡng mộ bản lĩnh người Nhật dù cái chết đến gần mà vẫn bình tĩnh, không hốt hoảng khi sơ tán.

Nhưng hơn 10 vạn người Hà Nội bình tĩnh, không hốt hoảng khi cái chết có thể ập xuống lúc nào không biết trong 12 ngày đêm tháng 12/1972, đã thế lại còn vít cổ thần tượng không lực Hoa Kỳ thì bản lĩnh này, trí tuệ này cũng rất đáng tự hào.

Với sự lãnh đạo của một Đảng dạn dày kinh nghiệm trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, với bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam ngày nay, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam đủ sức đương đầu với bất cứ kẻ thù nào.


Sưu tầm
13/1/13
Bảo vệ chủ quyền – cần cái nhìn tỉnh táo

Bảo vệ chủ quyền – cần cái nhìn tỉnh táo


Thời gian gần đây,liên quan tới tình hình tranh chấp biển Đông, đã có rất nhiều ý kiến được nêu ra nhằm góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Phần lớn các tiếng nói này đều xuất phát từ tinh thần yêu nước với một niềm mong mỏi là bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Tuy nhiên bên cạnh những ý kiến đóng góp hay thì cũng có một số ý kiến mang tính chất “cực đoan”. Đó là những ý kiến cho rằng Đảng, Nhà nước ta “nhu nhược” trong giải quyết vấn đề tranh chấp biển Đông, không dám làm mạnh tay vì sợ Trung Quốc. Thậm chí có ý kiến cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã “đi đêm” với Trung Quốc nhằm giữ vị trí lãnh đạo của mình, “đổi đất, biển đảo để lấy hòa bình”. Từ đó họ kích động đòi Đảng, Nhà nước phải “mạnh tay” trong giải quyết tranh chấp biển Đông và nếu cần thiết thì “đánh” để bảo vệ chủ quyền. Có quan tâm tìm hiểu kĩ mới thấy rằng hầu hết các ý kiến này đều xuất phát từ các đối tượng chống đối, thù địch với Đảng, Nhà nước Việt Nam cả trong cũng như ngoài nước. Thực chất âm mưu, ý đồ của họ trong việc đưa ra những ý kiến này là để nhằm hạ uy tín Đảng, Nhà nước, kích động dư luận xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. 



Có lẽ nhiều người chưa biết rằng nếu như xung đột vũ trang xảy ra thì người chịu thiệt sẽ là Việt Nam và chúng ta sẽ vĩnh viễn không bao giờ đòi lại được chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa bởi có những thế lực đang cố tình khiêu khích chúng ta để “tạo cớ”. Mặt khác nếu như xung đột vũ trang xảy ra thì Việt Nam sẽ rơi vào một trong bốn nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia đó là xung đột vũ trang do tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo và lúc đó chính trị sẽ bất ổn, các thế lực thù địch nhà nước Việt Nam sẽ có điều kiện nổi dậy chống phá. Điều nguy hiểm là một số người dân Việt Nam do chưa tỉnh táo nên chưa nhận thức rõ được hết âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch, thậm chí còn “phụ họa” theo các luận điệu đó. Thiết nghĩ để bảo vệ được chủ quyền Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam chúng ta cần có những đóng góp thiệt thực chứ đừng để lòng yêu nước của mình bị lợi dụng. Hãy tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua hòa bình, đối thoại của Đảng, Nhà nước. Đó cũng là con đường duy nhất đúng đắn để chúng ta bảo vệ chủ quyền. Giải quyết tranh chấp biển Đông là vấn đề lâu dài chứ không thể ngày một ngày hai. Chúng ta có quyền tin tưởng rằng dưới đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và sự cố gắng nỗ lực của tất cả mọi người dân Việt Nam với một “cái đầu” tỉnh táo thì chắc chắn chúng ta sẽ giành lại được chủ quyền ở các vùng biển đảo quê hương thấn yêu.


Người viễn xứ
19/12/12
Đà Nẵng chặn gần 2.000 lượt tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền

Đà Nẵng chặn gần 2.000 lượt tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền


Đó là thông tin được Đại tá Phạm Bá Sơn, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng cho biết ngày 19/12 tại Đại hội Thi đua quyết thắng Bộ đội Biên phòng TP Đà Nẵng lần thứ 5 (2009 – 2012).
Theo Đại tá Phạm Bá Sơn, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, đặc biệt là tình hình biển Đông, BĐBP Đà Nẵng đã đổi mới nâng cao chất lượng công tác nắm, phân tích, dự báo tình hình; chủ động xây dựng các kế hoạch bảo vệ biên giới; tiến hành chặt chẽ, đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng; tổ chức lực lượng tăng cường tuần tra kiểm soát; phối hợp, hợp đồng chặt chẽ với các lực lượng để phát huy sức mạnh tổng hợp trong quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển.
Từ năm 2009 đến nay, BĐBP Đà Nẵng đã tổ chức xuất kích 1.054 lượt tàu với hải trình 120.631 hải lý làm nhiệm vụ bảo vệ tàu thăm dò dầu khí kết hợp tuần tra, kiểm soát, quản lý bảo vệ chủ quyền vùng biển. Qua đó đã xua đuổi, ngăn chặn 1.926 lượt tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển nước ta; phối hợp chặt chẽ với các địa phương huy động 107 lượt tàu cá/793 ngư dân trực tiếp tham gia đấu tranh chống hoạt động xâm phạm chủ quyền vùng biển.
“Trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ BĐBP Đà Nẵng luôn nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, quân đội; kiên quyết, dũng cảm, mưu trí, khôn khéo xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống. Trong thực tiễn đã xuất hiện nhiều cách làm hay như tổ chức ký quy chế về công tác thông tin liên lạc giữa BĐBP với các tàu cá của ngư dân hoạt động trên biển; xây dựng bản mật danh báo tọa độ trên biển…” – Đại tá Phạm Bá Sơn nói.
Ông cũng cho biết, công tác quản lý cửa khẩu không ngừng được BĐBD Đà Nẵng đầu tư, đổi mới nội dung, thủ tục nhanh gọn, chính xác, tạo môi trường thông thoáng vừa bảo đảm an ninh, vừa phục vụ tốt chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại và giao lưu quốc tế; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, đầu tư các trang thiết bị phục vụ tốt công tác cải cách thủ tục hành chính.
Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng tăng cường kiểm soát chặt chẽ tàu thuyền nước ngoài đi vào vùng biển Việt Nam - Ảnh: HC

Hơn 4 năm qua, BĐBP TP đã làm thủ tục xuất nhập cảnh cho 5.594 lượt tàu với 273.785 thuyền viên, 235.754 lượt khách du lịch, 9.079.138 tấn hàng hóa; 21 lượt tàu quân sự với 2.134 thủy thủ đoàn. Đăng ký phương tiện thủy nội địa cho 12.395 lượt tàu/127.409 lượt thuyền viên, 9.745.600 tấn hàng hóa. Qua quản lý cửa khẩu đã xác minh, làm rõ 98 vụ với 181 đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính 57 vụ/143 đối tượng với số tiền hơn 184 triệu đồng.
Từ năm 2009 đến nay, BĐBP TP đã xác lập 15 chuyên án; phát hiện, bắt giữ, điều tra 465 vụ với 772 đối tượng; khởi tố 37 vụ án hình sự/42 đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính 343 vụ/606 đối tượng với số tiền 520 triệu đồng. Tang vật thu giữ gồm 661,957 gam và 56 tép hêrôin; 1.053 viên ma túy tổng hợp; 640 gam hàng đá; 458,578 gam và 83 gói cần sa, 2.400kg mì chính giả; 3.000kg quặng titan; 7.000 gói thuốc lá Jet; 1.600m3 dầu D.O; 25m3 gỗ, 56 xe máy, 65 điện thoại di động… Trên mặt trận đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại trên biển, BĐBP Đà Nẵng cũng phát hiện, bắt giữ 12 tàu với 21.138 tấn than trị giá hàng hóa gần 17 tỷ đồng.
Với những thành tích trong phong trào “Thi đua quyết thắng” 4 năm qua, BĐBP Đà Nẵng đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất; Hải đội 2 (thuộc BĐBP TP) được phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT trong thời kỳ đổi mới.
HẢI CHÂU (Infonet)

Từ 19.12, VNG ngừng vĩnh viễn game Chinh Đồ vì có "đường lưỡi bò"

Từ 19.12, VNG ngừng vĩnh viễn game Chinh Đồ vì có "đường lưỡi bò"

Dân Việt - "Là một doanh nghiệp do người Việt Nam thành lập, VNG sẽ mạnh tay với các đối tác vi phạm nội dung liên quan đến văn hóa, chính trị và lãnh thổ Việt Nam” – Trưởng ban Truyền thông VNG cho biết.

Trò chơi Chinh Đồ phát hành phiên bản đầu tiên vào năm 2008 do nhà sản xuất Trung Quốc cung cấp. Từ đó tới nay, trò chơi này luôn được nâng cấp, cập nhật thường xuyên. Tuy nhiên, lần cập nhật mới nhất vào ngày 14.12 vừa qua, nhà cung cấp Trung Quốc tự động đưa vào bản đồ thể hiện vùng biển Đông gồm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nhưng lại nằm trong hình “lưỡi bò” của Trung Quốc.
Do bản đồ này nằm sâu trong phần hướng dẫn nên VNG không phát hiện ra. Tuy nhiên, khi được người chơi phản ánh, VNG ngay lập tức cho ngừng trò chơi này và chấm dứt hợp tác với nhà sản xuất.
VNG ngừng vĩnh viễn game Chinh Đồ vì có "đường lưỡi bò"

VNG đã cầu thị
Ngày 19.12, trao đổi với , bà Đoàn Đỗ Ngọc Thi, Trưởng ban Truyền thông Công ty cổ phần VNG (gọi tắt VNG), cho biết kể từ hôm nay (19.12) VNG chính thức ngừng phát hành trò chơi game Chinh Đồ tại Việt Nam, đồng thời, chấm dứt hợp tác với nhà sản xuất Trung Quốc và bồi thường thiệt hại cho người chơi.
“Dù việc đóng cửa trò chơi Chinh Đồ sẽ gây thiệt hại rất lớn cho VNG, nhưng là một doanh nghiệp do người Việt Nam thành lập, VNG sẽ mạnh tay với các đối tác vi phạm nội dung liên quan đến văn hóa, chính trị và lãnh thổ Việt Nam” – bà Thi nhấn mạnh.
Lý do mà VNG đưa ra là đơn vị sản xuất game Chinh Đồ đã đưa mẫu thiết kế là bản đồ mới của trò chơi xuất hiện những nội dung có liên quan đến vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam vào phiên bản cập nhật ngày 14.12 vừa qua. Đây là nội dung cập nhật không đúng với những cam kết cũng như yêu cầu của VNG.
Do đó, VNG kiên quyết không thỏa hiệp và không chấp nhận bất kỳ động thái nào làm ảnh hưởng đến văn hóa, pháp luật, con người và đặc biệt là tinh thần dân tộc Việt Nam.
Bà Thi cho biết thêm, trước khi quyết định đưa một trò chơi về Việt Nam, VNG có nhiều bộ phận kiểm duyệt cẩn thận các nội dung, hình ảnh, thiết kế trong game để phù hợp thị hiếu, văn hóa, đạo đức của người Việt. Trong quá trình vận hành, đội ngũ nhân viên vẫn làm việc thường xuyên để kiểm soát các vấn đề phát sinh như lỗi, sai thiết kế ban đầu.
“Tuy nhiên, VNG vẫn có sai sót khi không kịp thời nhận ra sự thay đổi này. Khi được khách hàng thông báo, ngay lập tức VNG đã nhanh chóng gỡ bỏ những thiết kế ấy. Để thể hiện rõ tinh thần cầu thị và quyết tâm bảo vệ chủ quyền, dù trong một trò chơi trực tuyến, VNG đã quyết định dừng vĩnh viễn trò chơi Chinh Đồ hai phiên bản 1.0 và 2.0” – bà Thi nói.

VNG xin lỗi khách hàng
Cạnh đó, đại diện VNG cũng gửi lời xin lỗi đến người chơi, quý khách hàng và cộng đồng vì những sai sót mà VNG gặp phải trong quá trình vận hành trò chơi Chinh Đồ.
“VNG rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu, cũng như tiếp tục nhận được sự ủng hộ của người chơi và cộng đồng dành cho các sản phẩm của VNG” – bà Thi chân thành.
Được thành lập vào tháng 9.2004, khởi điểm từ công ty Vinagame chuyên cung cấp dịch vụ Game Online. Tháng 8.2011, Công ty Vinagame đã chính thức đổi tên thành Công ty Cổ phần VNG.
VNG đã trở thành một công ty tập trung phát triển công nghệ nội dung số trên nền tảng internet hàng đầu Việt Nam và hướng đến thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, VNG còn là doanh nghiệp phát triển và vận hành cổng thông tin giải trí Zing đứng đầu Việt Nam về lượng truy cập.
Bà Thi cho biết, bằng những nghiên cứu không mệt mỏi của nhiều đội ngũ nhân sự trẻ, năng động và đầy nhiệt huyết, VNG đang từng bước khẳng định vị trí dẫn đầu trong ngành nội dung số và CNTT tại Việt Nam với định hướng nhất quán nhằm “Phát triển Internet để thay đổi cuộc sống người Việt Nam”.


12/12/12
GIẢN DỊ TÌNH YÊU TRƯỜNG SA

GIẢN DỊ TÌNH YÊU TRƯỜNG SA

TT - Ngày 21-9, một người đàn ông ăn mặc giản dị bước vào phòng tiếp bạn đọc báo Tuổi Trẻ. Ánh mắt ông như toát lên nụ cười khi nói: “Tôi đến để đóng góp mua xuồng CQ cho Trường Sa”.


Xuồng CQ của TP.HCM tặng đảo Sơn Ca

      Ông là giáo sư đang giảng dạy ở Trường đại học Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM). Ông nhỏ nhẹ khẳng định sẽ đóng góp cho chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa” 161 triệu đồng. Hôm nay ông đóng góp 88 triệu đồng, số tiền còn lại sẽ được mang đến sau.
Học thầy tấm lòng yêu Tổ quốc.
      Đó là số tiền vị giáo sư đã dành dụm suốt mười năm qua từ tiền lương của mình. Ông cho biết dự định chỉ dùng số tiền này khi có những việc quan trọng, và hôm nay đóng góp cho Trường Sa thêm sức mạnh là một việc vô cùng quan trọng mà mình cần làm để thực hiện bổn phận của một công dân.
      Từ nhỏ ông đã đọc, tìm hiểu những tài liệu liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và ý thức rõ đó là một phần máu thịt của Tổ quốc. Đó cũng chính là lý do ông không hề ngần ngại đóng góp toàn bộ số tiền mình tiết kiệm được cho chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa” do báo Tuổi Trẻ phát động.
      “Tôi còn làm việc thì tiếp tục kiếm được tiền, điều quan trọng là đất nước mình mạnh thì những công dân như tôi sẽ được sống hạnh phúc” - vị giáo sư già chia sẻ.
Nói về mình, vị giáo sư khiêm tốn từ chối để lại một cái tên trên mặt báo, chỉ cho biết: “Tôi là một học trò của giáo sư Lê Văn Thới”. Bởi vì với ông: “Được biết đến là một học trò của giáo sư Lê Văn Thới là niềm vinh hạnh lớn cho tôi lắm rồi. Thầy tôi là một người yêu nước mẫu mực, đỗ đạt ở đất Pháp, vẫn vứt bỏ tất cả để về phụng sự Tổ quốc. Thầy mất gần 30 năm nhưng đã để lại cho tôi bài học lớn, sâu sắc về lòng yêu nước. Hành động hôm nay của tôi là noi theo gương thầy, cống hiến một chút cho đất nước”.
“Quá hiểu thế nào là hi sinh...”
       Kể từ khi phát động chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa”, Tuổi Trẻ đã nhận được sự đồng cảm và ủng hộ của hàng trăm bạn đọc trong và ngoài nước, từ một học sinh lớp 4 tại Bến Tre ở xa không thể đến tòa soạn được, nhờ bố mẹ chuyển khoản giúp; một chủ quán ăn trên đường Hoàng Văn Thụ (Q.Tân Bình), những cán bộ công nhân viên của nhiều ngân hàng, chị bán ve chai, người nội trợ... Và còn rất nhiều bạn đọc đề nghị không nêu tên với lý do: sự đóng góp của mình quá nhỏ bé.
        Một bạn đọc có pháp danh P. Chung (TP.HCM), cán bộ nghỉ hưu, cho biết: “Tôi sống ở thời đất nước còn chiến tranh, thời của bom đạn, khó khăn nên cảm nhận rất rõ về hòa bình. Chúng tôi lớn lên trong không khí hừng hực của những ngày mà thanh niên ai cũng muốn ra chiến trường cầm súng. Nhiều người bạn lớp 7, lớp 10 của tôi đã ra đi và không trở lại trong những năm 1968-1970. Thế nên tôi quá hiểu thế nào là hi sinh và công lao của các anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ để chúng ta có được cuộc sống yên bình, no ấm hôm nay. Thời trẻ tôi đã không có nhiều điều kiện làm những việc mình cần làm, nên bây giờ còn có thể làm gì đóng góp cho đất nước mình thì tôi không do dự”.
       Bạn đọc Phan Văn Nhu, giáo viên ở Q.Gò Vấp, TP.HCM, thổ lộ: “Khi biết Tuổi Trẻ phát động chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa”, tôi thấy chương trình này rất có ý nghĩa vì thiết thực”. Bài báo giới thiệu về chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa” của Tuổi Trẻ đã đưa người giáo viên sinh ra ở Quy Nhơn này quay về những hình ảnh mùa sóng gió, biển động của vùng biển quê mình. Ấy là khi vào mùa biển động, ngư dân phải bơi mủng vào bờ. Có khi sóng lớn quá, thuyền lớn không vào được, phải thả thuyền nhỏ xuống chèo vô nhưng không may gặp đá và sóng lớn là thuyền bể ngay.
     “Gần đất liền còn nguy hiểm như vậy, huống gì ở ngoài nơi sóng gió khốc liệt như Trường Sa - anh Nhu nói - Tôi nhớ đến những hình ảnh về người chiến sĩ mình ở Trường Sa phải dầm mình trong mưa gió mà tôi được xem hồi đi học ở Trường ĐH Thủy sản Nha Trang. Nhất là người lính đứng ở đảo, nơi nước ngập tới đầu gối, bên những rạn san hô. Mình đóng góp tinh thần là chính chứ vật chất có đáng là bao. Các con của tôi đọc Tuổi Trẻ, tụi nhỏ mới học lớp 5, lớp 7 mà cũng hào hứng nói sẽ trích tiền thưởng đoạt giải trong cuộc thi thể dục thể thao đóng góp giúp mấy chú bộ đội Trường Sa”.
     Anh Nhu gợi ý: “Những hình ảnh về việc đi lại, chuyển tải của các chiến sĩ mình ở Trường Sa xuất hiện trên mặt báo còn quá ít. Những người chưa ra Trường Sa như tôi sẽ không thể hiểu hết được nỗi gian khổ, vất vả của chiến sĩ mình. Tuổi Trẻ nên đưa nhiều hơn nữa những hình ảnh ấn tượng về cảnh chiến sĩ Trường Sa cập xuồng, chuyển tải trong sóng dữ, mưa gió”. 
Nguồn: Tuoitre.vn
Chưa làm được nhiều cho biển đảo

Chưa làm được nhiều cho biển đảo


TT - Trong hơn một tháng qua, chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa” luôn nhận được sự hưởng ứng của bạn đọc với chung một gửi gắm: đóng góp của mình còn nhỏ bé lắm so với những gian khổ ở Trường Sa.
Sáng 14-10, ông Đào Công Luận (Q.Tân Phú, TP.HCM) dẫn con trai Đào Minh Phúc đến tòa soạn đóng góp 1 triệu đồng cho chương trình Xuồng cứu hộ CQ. Gia đình ông còn đóng góp 1,5 triệu đồng cho chương trình Ước mơ của Thúy - Ảnh: Gia Tiến.
Những cựu chiến binh của một thời khói lửa, từng đi qua chiến tranh nên cảm nhận rất rõ về giá trị của hòa bình. Và từng ngày, họ dành dụm những đồng lương hưu nhỏ để góp mua xuồng CQ tiếp sức bảo vệ chủ quyền.
Như vợ chồng bác sĩ N.L.G. (Q.1, TP.HCM), hơn 80 tuổi, không thể đi đến tòa soạn, đã nhờ con trai mình là một đại tá của Quân khu 7 mang số tiền trích từ lương hưu đến báo Tuổi Trẻ gửi chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa”. Bà L.G. cho biết: “Cả hai vợ chồng tôi đều là quân y, dân y trong kháng chiến chống Mỹ, bây giờ lại có con đi bộ đội nên rất thương, rất quý bộ đội. Đóng góp của vợ chồng tôi không chỉ là tình cảm của người kháng chiến mà còn là nghĩa vụ, là trách nhiệm của người dân. Ở đảo xa bao nhiêu khó khăn, gian khổ, những gì mà chúng ta đang làm còn nhỏ bé lắm. Trước đây vợ chồng tôi từng “Góp đá xây Trường Sa” ở tổ dân phố. Tôi xúc động vì Tuổi Trẻ đã có một chương trình cụ thể, thiết thực để mỗi người dân đều có thể đóng góp, ủng hộ Trường Sa”.
Đại diện chi bộ khu phố 1 (P.8, Q.4, TP.HCM) cầm số tiền 2 triệu đồng đến tòa soạn Tuổi Trẻ, ông Trần Nhựt Thanh - chi ủy viên - cho biết: “Trong cuộc họp chi bộ hằng tháng, bí thư đã phổ biến chương trình “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa” mà báo Tuổi Trẻ phát động và được tất cả đảng viên hưởng ứng. Không chỉ chương trình này mà những chương trình trước đó của Tuổi Trẻ hướng về tình yêu đất nước và ý thức dân tộc đã làm chúng tôi rạo rực hơn, cảm nhận nhiều hơn về ý nghĩa của chủ quyền đất nước”. Ông  Thanh cũng nói trong chi bộ khu phố 1, phần lớn là các cựu chiến binh đã từng tham gia cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam.
Không chỉ có các cựu chiến binh, nhiều bạn trẻ đã tham gia góp sức để mua xuồng cứu hộ CQ.
Nhóm bạn Nam Anh, Minh Lộc, Đức Phú (TP.HCM) cùng 24 tuổi, mới ra trường hai năm, có người còn đang theo học cao học, nhưng hơn một năm nay hằng tháng mỗi người đều trích ra một phần tiền lương ủng hộ chương trình “Góp đá xây Trường Sa” và bây giờ là “Xuồng cứu hộ CQ cho Trường Sa”.
Đức Phú khẳng định: “Tôi và các bạn sẽ tiếp tục làm như vậy chứ không chỉ một lần hay một năm. Chúng tôi được yên bình, có nhiều điều kiện học hành, được sống cuộc sống đầy đủ, tiện nghi... là nhờ những chiến sĩ nơi xa xôi của Tổ quốc bất chấp cả sóng gió, hiểm nguy, ngày đêm giữ đất nước. Biển đảo của chúng ta đang gặp nhiều khó khăn, đóng góp của chúng tôi còn nhỏ bé lắm, nhưng chỉ cần mỗi người dân chúng ta chung tay góp sức cho Trường Sa sẽ tạo thành một sức mạnh khổng lồ về vật chất lẫn tinh thần”.
Chàng trai trẻ này còn đề xuất thêm: ngoài những cuộc thi viết, Tuổi Trẻ nên tổ chức những cuộc thi hình thức tương đối đơn giản, nội dung nhẹ nhàng để mọi người tham gia dễ dàng hơn, từ đó phổ biến rộng rãi hơn những chương trình liên quan đến biển đảo, đến Trường Sa mà Tuổi Trẻ đang thực hiện.
Theo nguồn : Tuoitre.vn
2/12/12
Giải quyết vấn đề Biển Đông - Cần những cái nhìn toàn diện, sâu sắc

Giải quyết vấn đề Biển Đông - Cần những cái nhìn toàn diện, sâu sắc


Thời gian gần đây tình hình Biển Đông đang có những diễn biến hết sức phức tạp, chủ yếu liên quan đến việc tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là giữa Trung Quốc với Philippin và giữa Trung Quốc với Việt Nam. Vấn đề Biển Đông càng căng thẳng hơn sau sự kiện tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Bình Minh và tàu Wiking II của Tập đoàn dầu khí Việt Nam; việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố thiết lập Bộ chỉ huy quân sự và Hội đồng đại biểu nhân dân “thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa; đưa 23 ngàn tàu đánh cá với gần 100 ngàn ngư dân rầm rộ đến đánh bắt hải sản tại vùng biển quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đặc biệt trong tháng 11/2012 Trung Quốc đã cấp hộ chiếu phổ thông điện tử cho công dân của nước này, trong đó có in hình bản đồ Trung Quốc bao gồm đường đứt đoạn (hộ chiếu “đường lưỡi bò”)…

Những việc làm trên của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông. Đồng thời bị dư luận quốc tế và trong nước lên án mạnh mẽ. Điều này cũng thể hiện thái độ ngang ngược của Trung Quốc với âm mưu quốc tế hóa vấn đề Biển Đông nhằm thực hiện âm mưu thôn tính Biển Đông.
Trước các hành động gây hấn của Trung Quốc, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách cứng rắn để bảo vệ chủ quyền của mình như gửi công hàm phản đối các hành động của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái; tiến hành các cuộc gặp song phương và đa phương, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề Biển Đông… đặc biệt, trong bất cứ hoàn cảnh nào Đảng, Nhà nước ta luôn tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta có đầy đủ bằng chứng pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thế nhưng, thời gian qua, lợi dụng những vấn đề phức tạp này nhiều đối tượng xấu trong và ngoài nước ta ra sức tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông, cho rằng Đảng, Nhà nước ta nhu nhược, không giám thể hiện chính kiến và không giám bảo vệ chủ quyền của mình. Thậm chí, nhiều đối tượng, nhất là những đối tượng xấu ở trong nước còn ra sức tuyên truyền kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân biểu tình phản đối Trung Quốc nhằm thể hiện “lòng yêu nước” nhưng thực chất là lợi dụng vấn đề này để chống Đảng, Nhà nước ta, tập dượt cho các hoạt động chống phá.
Chúng ta thấy rằng, giải quyết vấn đề Biển Đông là vấn đề hệ trọng, liên quan đến vấn để chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Do đó, để giải quyết tốt vấn đề này không phải là vấn đề một sớm một chiều, ngày một ngày hai mà cần phải có chiến lược tổng thể, dài hạn và hết sức khôn khéo. Giải quyết vấn đề Biển Đông cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và các thỏa thuận và cam kết đã có như Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố về Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN và mới đây là Tuyên bố chung Cấp cao Kỷ niệm 10 năm DOC.
Chính vì vậy, những lời lẽ tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông và giải quyết căng thẳng trên Biển Đông mà các phần tử xấu rêu rao thời gian qua thực chất là những hành động đi ngược lại với lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước ta đối với nhân dân và thế giới. Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc trên, đồng thời lên án mạnh mẽ những hành vi sai trái đi ngược lại với lợi ích của dân tộc này.
Giải quyết vấn đề Biển Đông không nên có một cái nhìn phiến diện, một chiều mà cần có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc

Theo Blog nguoicondatme.blogspot.com
29/11/12
Tỉnh ủy Hà Nam và Đảng ủy Quân chủng Hải quân phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

Tỉnh ủy Hà Nam và Đảng ủy Quân chủng Hải quân phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

(ĐCSVN) - Sáng 29/11, tại Hà Nam, Tỉnh ủy Hà Nam phối hợp cùng Đảng ủy Quân chủng Hải quân Việt Nam tổ chức Hội nghị ký kết Chương trình phối hợp tuyên truyền biển, đảo. 
Việc ký kết Chương trình nhằm mục đích phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa Quân chủng Hải quân và tỉnh Hà Nam trong công tác tuyên truyền biển đảo; tuyên truyền về tình hình phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng – an ninh của địa phương; qua đó, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân trong tỉnh; định hướng tư tưởng đúng đắn; xác định trách nhiệm, huy động các nguồn lực cả tinh thần và vật chất hướng về biển, đảo; góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Chương trình cũng nhằm nêu cao vai trò trách nhiệm của cơ quan, đơn vị chức năng của hai bên theo các nội dung chương trình ký kết; phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả cao; chấp hành nghiêm các chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội, địa phương và Quân chủng Hải quân về công tác tuyên truyền.




Ký kết Chương trình phối hợp tuyên truyền biển, đảo (ảnh: HN)



Theo đó, nội dung hoạt động của chương trình gồm có: Phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền miệng; phối hợp tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; phối hợp tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các đơn vị Hải quân với địa phương; tổ chức các đoàn đi thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ Hải quân, nhất là các đơn vị đóng quân trên quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK1; phối hợp tổ chức các hoạt động dân vận trên địa bàn tỉnh Hà Nam, các hoạt động giao lưu thể thao, văn hóa;  tổ chức triển lãm về biển, đảo, Quân chủng Hải quân và địa phương; các đợt hành quân về nguồn thăm chiến trường xưa, các địa danh lịch sử, văn hóa; phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam động viên, khuyến khích các văn nghệ sĩ sáng tác về đề tài biển, đảo và người chiến sĩ Hải quân; phối hợp thực hiện công tác giáo dục quốc phòng, kết hợp tuyên truyền thu hút nguồn nhân lực xây dựng Quân chủng Hải quân hiện đại...
Phát biểu tại Hội nghị ký kết, đồng chí Trần Xuân Lộc - Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam nhấn mạnh: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Bộ Tham mưu Hải quân là đầu mối triển khai thực hiện tốt những nội dung trong Kế hoạch phối hợp tuyên truyền biển, đảo trong năm 2013 giữa tỉnh Hà Nam và Quân chủng Hải quân, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, coi đó là tiền đề cho những năm tiếp theo. Cùng với đó, tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng, vị trí tiềm năng của biển, đảo nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đối với cán bộ, chiến sỹ Hải quân; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa tỉnh Hà Nam và Quân chủng Hải quân trong việc định hướng dư luận, thông tin chính xác, kịp thời, góp phần đấu tranh chống lại những thông tin sai sự thật, luận điệu xuyên tác, chống phá của các đối tượng thù địch; các cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh Hà Nam và Quân chủng Hải quân cần phối hợp chặt chẽ trong việc nâng cao chất lượng các tin, bài, ấn phẩm văn hóa tuyên truyền về biển, đảo...

Theo trang tin Đảng CSVN
11/10/12
Việt Nam sắp có lực lượng kiểm ngư hiện đại

Việt Nam sắp có lực lượng kiểm ngư hiện đại

Lực lượng này có quyền sử dụng một số loại vũ khí và công cụ hỗ trợ. Ủy ban Thường vụ Quốc hội gác dự án Luật Đầu tư công, mua sắm công
Trong phiên họp chiều 9-10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (QH) đã đồng ý để Chính phủ thành lập lực lượng kiểm ngư. Theo đó, trong khi thi hành công vụ, lực lượng này có quyền sử dụng một số loại vũ khí và công cụ hỗ trợ. Vì vậy, việc sửa đổi pháp lệnh này là cần thiết để khắc phục những bất cập nêu trên và bổ sung quy định mới cho phép lực lượng kiểm ngư được sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ.







Ủy ban Thường vụ QH cũng đồng ý bổ sung dự án Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012.

Trước đó, tại phiên họp sáng cùng ngày, Ủy ban Thường vụ QH đã dành thời gian cho ý kiến về dự án Luật Đầu tư công, mua sắm công và xem xét tờ trình của Chính phủ đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và khóa XIII của QH.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH, ông Phan Trung Lý, cho biết dự án Luật Đầu tư công, mua sắm công được QH quyết định đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và năm 2013.

Tuy nhiên, theo báo cáo của Chính phủ, quá trình soạn thảo gặp nhiều khó khăn khi xây dựng chung một dự án luật cho cả 2 lĩnh vực nên đã đề nghị cho tách thành 2 dự án luật riêng. Mặt khác, dự án Luật Đầu tư công, mua sắm công cũng chưa được trình Ủy ban Thường vụ QH cho ý kiến và trình Ủy ban Kinh tế để thẩm tra. Do đó, Ủy ban Pháp luật đề nghị Chính phủ tiếp tục chuẩn bị dự án Luật Đầu tư công, mua sắm công và trình Ủy ban Thường vụ QH cho ý kiến, Ủy ban Kinh tế thẩm tra.

Phó Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân thẳng thắn: “Tôi thấy chỗ nào cũng có chữ “công”. Lúc Chính phủ làm thì tách riêng, ra QH lại gộp lại mà Chính phủ không có ý kiến gì. Phần đầu tư công hơn 50 điều, mua sắm công hơn 170 điều nhưng rất ít liên quan đến nhau”. Theo bà Ngân, chỉ còn 12 ngày nữa là khai mạc kỳ họp QH thì không thể xong báo cáo thẩm tra để trình trong hoàn cảnh có nhiều chương trình nghị sự. “Chậm nhưng chắc, thấy bất hợp lý nhưng cứ trình lên QH thì mất công sức. Tôi đề nghị tách 2 luật này ra, chuyển sang năm 2013” - bà Ngân nói.

Đại đa số ý kiến đều tán thành việc tách 2 lĩnh vực đầu tư công và mua sắm công trong dự án luật này để xây dựng thành 2 luật riêng. Thường vụ QH đã đồng ý gác lại luật này để bàn bạc tiếp trong chương trình thảo luận tại nghị trường trong năm 2013.

Theo : Báo Lao Động
Copyright © 2012 The Best Template Blogger All Right Reserved