BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Rss

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Nước - Nhân Dân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Nước - Nhân Dân. Hiển thị tất cả bài đăng
19/1/14
Nối tiếp truyền thống cha ông!

Nối tiếp truyền thống cha ông!

[Mực Tàu] - Dân tộc Việt Nam luôn coi trọng đạo lý “uống nước nhớ nguồn/ Ăn quả nhớ kẻ chồng cây”. Truyền thống tốt đẹp ấy được lớp lớp các thế hệ đi trước răn dạy, giáo dục cho con cái đời sau. Đó là một truyền thống và đó cũng là nét văn hóa đặc sắc phản ánh nên nét đẹp trong cốt cách tinh thần của người dân Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Bàn về việc tiếp nối truyền thống, chúng ta không chỉ tiếp nối truyền thống ở việc thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với những người có công ơn mà chúng ta cũng phải biết ơn cả những người đã tin tưởng và giao cho chúng ta sứ mệnh để lãnh đạo, quản lý đất nước. Những người đó chính là nhân dân. Tiếp nối truyền thống ở đây là việc các thế hệ đi sau được giao trọng trách gánh vác việc đại sự quốc gia phải tiếp nối những phẩm giá tốt đẹp mà thế hệ đi trước đã làm được và đã tạo dựng được niềm tin đối với nhân dân. Trong giai đoạn ngày nay, sự kế thừa và phát huy thật sự truyền thống này đóng vai trò cực kỳ trọng yếu, nó quyết định sự thành công hay thất bại của một nền chính trị.

Mỗi con người Việt Nam sẽ không thể nào quên  người Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi đã từng nói: “sức dân mạnh như sức nước, chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Bác Hồ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới đánh giá vai trò của nhân dân như sau: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”. Tầm quan trọng của quần chúng nhân dân được các thế hệ ông cha đúc rút ra là bài học để thế hệ con cháu đi sau học hỏi và phát huy.


Nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân như vậy, trong ba nhiệm kỳ Đại hội gần đây, ngay trong tiêu đề báo cáo chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn nhấn mạnh việc phải phát huy sức mạnh toàn dân tộc,… Công cuộc đổi mới của đất nước ta đã đạt được một số thành tựu là kết quả của sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn dân tộc. 

Trong thông điệp đầu năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng đã nói lên được quyết tâm, ý chí phấn đấu vì sự nghiệp đổi mới đất nước. Chúng ta phải thấy rõ được rằng, việc nhấn mạnh về nội dung cần phải thực sự phát huy dân chủ, người dân phải thực sự làm chủ là một nội dung cốt lõi, quan trọng. Nội  dung này là đúng đắn và đây cũng là nội dung tiếp thu từ sự kế thừa từ những yếu tố truyền thống của dân tộc, cụ thể đó chính là kế thừa từ trí tuệ sáng suốt của thế hệ đi trước.



Là thế hệ trẻ của đất nước, là người sẽ đóng vai trò quan trọng của dân tộc trong kỷ nguyên mới của thời đại. Chúng ta phải biết kế thừa yếu tố truyền thống tốt đẹp, mang giá trị trường tồn và đúng đắn. Tương lai phía trước là dựa trên cơ sở thực tiễn khách quan nhưng thực tiễn ấy cần có yếu tố truyền thống và định hướng rõ ràng. 
23/12/13
Cần hơn như thế nữa!

Cần hơn như thế nữa!

[Mực Tàu] - Cả nước đang bước vào thời điểm cuối năm 2013. Dường như trong tâm trí mỗi con người Việt Nam đều đã xuất hiện những hình ảnh mang dư vị của ngày tết truyền thống của dân tộc được quây quần bên gia đình. Những người con đi làm ăn xa, cả năm bươn trải chỉ mong đến Tết để được về với gia đình, những người lính khoác trên mình nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc lại mong chờ những ngày phép để được về thăm người thân. Tết Nguyên Đán, cái Tết truyền thống của dân tộc tộc Việt, cái Tết làm cho con người trỏ lên gần gũi nhau hơn, Tết Nguyên Đán - Tết của sự yêu thương.

Thời gian cuối năm, có vẻ như mọi thứ trở lên gấp gáp hơn, con người khẩn trương hoàn thành những công việc, nhiệm vụ trong năm. Và tiết trời lạnh giá dường như cũng đang như thúc giục con người vội vã hơn.

Những ngày tháng cuối năm, chúng ta tự ngẫm về những sự kiện xảy ra trong năm qua. Đó là một năm đầy biến động của đất nước trên nhiều lĩnh vực của tất cả các mặt trong đời  sống xã hội. Có lẽ điều rất nhiều người còn băn khoăn đó là trong xã hội còn có rất nhiều những mảnh đời còn cơ cực. Họ là những người lao động nghèo, không có nghề nghiệp, phải bỏ quê hương “tha phương cầu thực”. Họ còn là những người nông dân phải một nắng hai sương, vất vả quanh năm mà vẫn chỉ đủ trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình.

 Qua một số lần được đi “mục sở thị” tại một số vùng quê. Bản thân tác giả nhận thấy rằng, trong rất nhiều năm qua xảy ra một tình trạng “lợn, gà ăn sổ đỏ” của người dân. Hỏi người nông dân thêm về vấn đề này, tôi được biết rằng, người nông dân đầu tư vào chăn nuôi. Số tiền người nông dân chỉ có đủ để mua con giống, họ mong chờ sau này bán sản phẩm của mình để “lấy công làm lãi”. Nhưng thực tế, đầu ra cho sản phẩm là thành quả mà họ vất vả có được vẫn không được đền đáp xứng đáng. Vì họ còn phải bỏ tiền để mua thuốc chữa bệnh cho gia súc, gia cầm, hơn thế nữa đầu ra của sản phẩm được mua với giá rất thấp. Người nông dân phải “cắm” sổ đỏ ở Ngân hàng để lấy tiền trả nợ tiền cám, tiền con giống. Đó chính là “lợn, gà ăn sổ đỏ” mà người nông dân thường than thở!

Nói về những người lao động phổ thông trong xã hội hiện nay, phần lớn họ không được lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân bởi họ hầu hết đều không có bằng cấp. Họ làm bất cứ việc gì, kể cả nặng nhọc, vất vả, thậm chí họ phải đánh cược cả tính mạng của mình để mưu sinh, kiếm tiền nuôi gia đình. Khi màn đêm buông xuống cũng là lúc con người tìm đến sự nghỉ ngơi để chuẩn bị sức khỏe cho một ngày làm việc mới. Thế nhưng vẫn rất nhiều người lao động coi ban đêm là thời gian để họ kiếm thêm tiền để lo toan cho cuộc sống mưu sinh vốn dĩ đã rất cực khổ.
                                         

                                                        Những cảnh thường gặp ở chợ Đồng Xuân

Xã hội luôn có những mặt đối lập, có người giàu và người nghèo, không ai giống ai. Nhưng chúng ta sống chung trong một cộng đồng, là những con người mới, tiến bộ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta cần phải yêu thương, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống. Nhưng để giải quyết triệt để được vấn đề thì Nhà nước cần có những chính sách để hỗ trợ người nghèo để họ vượt qua khó khăn. Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta luôn thực hiện chính sách hỗ trợ cho những hộ gia đình thuộc diện nghèo về vốn, hỗ trợ cả về vật chất cho người nghèo có cái tết trọn vẹn. Đó là chủ trương, chính sách hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương, chính sách này rất cần sự chung tay giúp sức của cả cộng đồng, những doanh nhân thành đạt. Đây là những động lực quan trọng để giúp cho những người dân nghèo được ấm áp hơn trong cái Tết Nguyên Đán.

Vừa qua, một sự việc được rất nhiều người thuộc rất nhiều tầng trong xã hội biết tới đó là “Câu chuyện đám cưới con trai Bí thư tỉnh ủy Sóc Trăng được tổ chức ngắn gọn, không bia rượu”. 


Đây là một cau chuyện được rất nhiều người dân ủng hộ, đồng tình. Hẳn trong mỗi chúng ta đều đã từng được đọc trên báo về  những đám cưới được tổ chức long trọng, tốn bạc tỉ. Thế nhưng, câu chuyện đám cưới con trai Bí thư tỉnh ủy Sóc Trăng được tổ chức ngắn gọn, không rượu bia là thể hiện sự tiết kiệm trong chi tiêu. Người cán bộ phải thực hiện tiết kiệm không những trong sinh hoạt của cơ quan,  tập thể mà còn phải tiết kiệm trong chi tiêu ngay tại gia đình. Bởi ở đâu đó vẫn có rất nhiều người dân đang cơ cực lao động kiến sống qua ngày, người nông dân vẫn nghèo khổ dù họ rất chịu thương chịu khó. Chúng ta cần hơn nữa những việc làm như trên! Đó là một cử chỉ đẹp thể hiện tình yêu thương giữa con người với con người trong xã hội. Chúng ta mong rằng những người lao động nghèo có cuộc sống bớt cơ cục hơn và thấy người nông dân mỉm cười nhiều hơn sau những vụ mùa bội thu. 


1/11/13
no image

Không thể bảo vệ Tổ quốc khi LÒNG DÂN không yên!

[Mực tàu] - Thành công trong sự nghiệp chống Pháp, chống Mỹ có mồ hôi, xương máu của nhân dân và nông dân rất lớn. Những năm tháng gian khổ ấy, cuộc kháng chiến kiến quốc trường kỳ của quân và dân ta đã giành được thắng trước kẻ thù hùng mạnh và tàn bạo. Sự thắng lợi đó là kết tinh từ lâu của lòng khao khát độc lập, tự do của nhân dân ta, sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và một điều rất quan trọng tạo nên chiến thắng oai hùng của dân tộc Việt Nam chính là nhân dân ta một lòng, một dạ tin và hành động theo sự lãnh đạo của Đảng. Nói theo một cách khác là trong năm tháng chống giặc ngoại xâm, dân tộc ta gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn vượt qua là do LÒNG DÂN được yên.
Trong thời đại ngày nay, Việt Nam bước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ những thành quả của cách mạng, những thành quả mà được đổi bằng chính xương máu của những người con anh dũng của dân tộc đã hi sinh. Ấy vậy mà, có những kẻ lợi dụn chức vụ vì lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến đời sống nhân dân. Những kẻ đó chỉ lo vun vén cho bản thân, chăm chút cho cái “ghế” của bản thân mình. Thậm chí, những kẻ đó chăm chút quá nên chẳng thấy bao giờ họ đi thẳng đứng được cả người.
Thực nghiệm đã chứng minh, trong bất cứ một hình thái xã hội nào thì cũng có ưu điểm và nhược điểm riêng. Nhưng xét đến cùng thì mọi vấn đề được nảy sinh ra từ con người. Con người là trung tâm của vũ trũ, con người có thể cải tạo điều kiện hiện có để phục vụ cho cuộc sống của con người.
Nếu trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, mỗi khi Đảng ta kêu gọi nhân dân đứng lên đấu tranh thì nhân dân hưởng ứng nhiệt tình, những người nông dân sẵn sàng nuôi giấu cán bộ cách mạng, một lòng một dạ với cách mạng, thậm chí họ sẵn sàng hi sinh tính mạng. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận lại suy nghĩ của nhân dân để xem họ nghĩ gì. Một ví dụ đơn giản là công tác vận động nhân dân ủng hộ tu sửa nghĩa trang liệt sĩ tại một số địa phương đã có rất nhiều người dân không tha thiết nữa. Ngay từ những việc nhỏ mà nhân dân chưa hưởng ứng, không còn muốn quan tâm thì thực sự cần nhìn nhận lại vấn đề LÒNG DÂN. LÒNG DÂN là vô cùng quan trọng. Nhất là trong vài năm gần đây, rất nhiều các vụ việc phức tạp về tệ nạn tham được phát hiện. Mặc dù, kẻ tham nhũng đã phải nhận tội trước vành móng ngựa nhưng người dân lại than phiền một điều rằng: Tại sao lại để xảy ra tình trạng đó?
Tình hình hiện nay đang bức xúc ở công tác phòng, chống tham nhũng. Tham nhũng hủy hoại ghê gớm vào nhiều mặt của một quốc gia, nhưng có lẽ nguy hiểm nhất là khiến mất lòng tin yêu của nhân dân. Và khi LÒNG DÂN không yên thì công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc kém đi sức mạnh và rất khó để đạt kết quả như mong muốn. Do vậy, cần phải đặt song song cả hai vấn đề “chống tham nhũng” và “LÒNG DÂN”. Muốn lấy lại niềm tin với nhân dân thì phải kiên quyết trong công tác chống tham nhũng, coi tham nhũng chính là kẻ thù của dân tộc.

Chúng ta đang sống trong hòa bình. Nhưng đằng sau sự bình yên ấy là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch. Bọn chúng luôn muốn xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong lịch sử, Đảng Cộng sản đã yên được LÒNG DÂN để cả dân tộc bước vào chống giặc ngoại xâm. Trong thời đại ngày nay, khi LÒNG DÂN không yên thì cần phải củng cố lại. Bởi vì kẻ thù ngày càng nguy hiểm, chúng dùng những viên “đạn bọc đường” để tấn công vào hệ thống xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam. Cần phải yên LÒNG DÂN để bảo vệ Tổ quốc! 
15/3/13
no image

Khiếu nại của ông Trương Anh Linh (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) đã được giải quyết đúng quy định


QĐND - Thời gian qua, Báo Quân đội nhân dân đã nhiều lần tiếp và liên tục nhận được đơn thư, các cuộc điện thoại của ông Trương Anh Linh, trú tại thôn Nghĩa Lý, Hiệp Hòa, Vĩnh Bảo, Hải Phòng khiếu nại việc mình “nghỉ phục viên mất sức 61%, được hưởng chế độ bệnh binh theo Quyết định số 32 ngày 28-10-1975; đã làm thủ tục ở Bộ CHQS TP Hải Phòng, UBND huyện Vĩnh Bảo, Ban CHQS huyện Vĩnh Bảo; hồ sơ đã chuyển về đến xã” nhưng 35 năm nay chưa được giải quyết.
Ngày 7-3-2013 vừa qua, chúng tôi đã trao đổi về trường hợp của ông Trương Anh Linh với Cục Chính sách và được tiếp cận hồ sơ, các văn bản giải quyết vụ việc. Theo đó, tại công văn số 3369/BC-BTL ngày 11-8-2008 của Bộ tư lệnh Quân khu 3 báo cáo Bộ Quốc phòng thì hồ sơ của ông Linh lưu tại cơ quan quân sự gồm có:
Lý lịch quân nhân tự khai năm 1975, có chứng thực của chỉ huy Trung đoàn 240. Chứng thực không nói ông Linh mất sức 61%. Quyết định số 32/QĐ ngày 28-10-1975 của Trung đoàn 240, Cục Hậu cần QK 5 cho ông Linh phục viên về xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. Quyết định số 402/QĐ năm 1976 của Ban CHQS huyện Vĩnh Bảo về việc di chuyển quân dự bị đối với ông Linh từ huyện về xã Hiệp Hòa. Quyết định này ghi rõ: “Theo Quyết định phục viên số 32 ngày 28-10-1975”. Bản khai nhân khẩu do ông Linh viết tay, không có dấu. Đơn năm 2002 của ông Linh viết sau 27 năm phục viên gửi Trung đoàn 240, Cục Hậu cần QK5 được Thiếu tá Nguyễn Ta, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 240 thời kỳ 1975 xác nhận ông Linh mất sức 61% khi ra quân, nhưng Cục Hậu cần QK5 do đồng chí Đinh Ngọc Dũng, Phó tham mưu trưởng Cục ký ngày 16-12-2002 có xác nhận nhưng không xác định ông Linh mất sức 61%.
Với những hồ sơ trên, từ tháng 10-2003, ông Linh liên tục gửi đơn đến các cơ quan chức năng của TP Hải Phòng và Trung ương đề nghị được giải quyết chế độ bệnh binh. Ngày 11-3-2004, Bộ CHQS TP Hải Phòng có công văn số 449/CV-BCH kèm hồ sơ báo cáo xin ý kiến Cục Chính sách. Ngày 25-5-2004, Cục Chính sách có công văn số 381/CS trả lời. Theo công văn: “Trường hợp ông Linh là quân nhân phục viên theo Quyết định số 32/QĐ ngày 28-10-1975 của Trung đoàn 240, Cục Hậu cần, QK 5. Bị “mất sức lao động 61%” như đơn ông trình bày không đủ căn cứ giải quyết chế độ bệnh binh và thời điểm đó quân đội không có quyền hạn giải quyết chế độ bệnh binh”.
Ngày 20-3-2005, đơn của ông Linh cũng đã được Chánh thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP Hải Phòng có công văn số 151 khẳng định: “Qua kiểm tra danh sách, hồ sơ bệnh binh, thương binh lưu trữ tại sở đều không có tên ông Trương Anh Linh. Căn cứ vào các tài liệu bản sao kèm theo đơn thì ông đã được cơ quan quân đội giải quyết chế độ phục viên theo Quyết định số 32/QĐ ngày 28-10-1975 của Trung đoàn 240 QK5 chứ không phải là đã giải quyết chế độ bệnh binh như đơn nêu”. Công văn cũng khẳng định: “Trong thời gian 2 năm kể từ khi về phục viên tại địa phương, ông có quyền đề nghị địa phương giới thiệu giám định sức khỏe tại Hội đồng giám định y khoa nơi cư trú để xem xét giải quyết chế độ bệnh binh. Nay ông mới đề nghị (sau 27 năm) giám định lại sức khỏe để giải quyết chế độ bệnh binh thì đề nghị của ông đã quá thời hạn, nên Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP Hải Phòng không có căn cứ để giải quyết chế độ bệnh binh cho ông được”.
Dù đã được trả lời nhưng ông Trương Anh Linh tiếp tục có đơn. Ngày 7-9-2005, Cục Chính sách có công văn số 228 khẳng định lại: Ông Trương Anh Linh không đủ căn cứ giải quyết chế độ bệnh binh và thời điểm đó quân đội không có quyền hạn giải quyết chế độ bệnh binh.
Ngày 7-6-2006, Bộ CHQS TP Hải Phòng đã tổ chức buổi làm việc gồm Chánh thanh tra Bộ CHQS Thành phố, đại diện Phòng Tổ chức Lao động huyện Vĩnh Bảo, cơ quan chính trị, Ban CHQS huyện Vĩnh Bảo và ông Linh. Tại buổi làm việc, Bộ CHQS Thành phố đề nghị ông Linh đưa các căn cứ (hồ sơ) để có cơ sở giải quyết nhưng ông Linh không đưa được thêm tài liệu nào nữa nên kết luận không có cơ sở giải quyết.
Theo số liệu thống kê được, thời gian từ tháng 10-2003 đến tháng 4-2008, Bộ CHQS thành phố Hải Phòng, Bộ tư lệnh Quân khu 3, UBND và Sở LĐTB & XH TP Hải Phòng đã 9 lần nhận được đơn đề nghị của ông Linh, 20 lần nhận phiếu chuyển và có văn bản trả lời các cơ quan chức năng và cá nhân ông Linh, trong đó có một lần tổ chức gặp mặt trực tiếp.Vậy nhưng ông Linh vẫn tiếp tục khiếu nại cho đến nay.
Mới đây, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Quốc phòng về việc nghiên cứu, xem xét, trả lời kiến nghị của ông Linh, ngày 13-11-2012, Tổng cục Chính trị đã có công văn số 1789 gửi ông Linh, khẳng định: “Khi về địa phương, ông không có đủ điều kiện và hồ sơ, thủ tục để giải quyết chế độ bệnh binh theo quy định tại Quyết định số 78/CP ngày 13-4-1978 của Chính phủ và Thông tư số 13/TBXH ngày 15-8-1978 của Bộ TBXH. Với những hồ sơ hiện có của ông, theo quy định không có cơ sở để giải quyết chế độ bệnh binh”. 
Như vậy, khiếu nại của ông đã được các cơ quan trong và ngoài quân đội nhiều lần trả lời và kết luận không đủ điều kiện giải quyết chế độ bệnh binh.
HÀ PHƯƠNG
Báo Quân Đội Nhân Dân Online



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻNhân dân-QĐND-VNCH
no image

Khiếu nại của ông Trương Anh Linh (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) đã được giải quyết đúng quy định


QĐND - Thời gian qua, Báo Quân đội nhân dân đã nhiều lần tiếp và liên tục nhận được đơn thư, các cuộc điện thoại của ông Trương Anh Linh, trú tại thôn Nghĩa Lý, Hiệp Hòa, Vĩnh Bảo, Hải Phòng khiếu nại việc mình “nghỉ phục viên mất sức 61%, được hưởng chế độ bệnh binh theo Quyết định số 32 ngày 28-10-1975; đã làm thủ tục ở Bộ CHQS TP Hải Phòng, UBND huyện Vĩnh Bảo, Ban CHQS huyện Vĩnh Bảo; hồ sơ đã chuyển về đến xã” nhưng 35 năm nay chưa được giải quyết.
Ngày 7-3-2013 vừa qua, chúng tôi đã trao đổi về trường hợp của ông Trương Anh Linh với Cục Chính sách và được tiếp cận hồ sơ, các văn bản giải quyết vụ việc. Theo đó, tại công văn số 3369/BC-BTL ngày 11-8-2008 của Bộ tư lệnh Quân khu 3 báo cáo Bộ Quốc phòng thì hồ sơ của ông Linh lưu tại cơ quan quân sự gồm có:
Lý lịch quân nhân tự khai năm 1975, có chứng thực của chỉ huy Trung đoàn 240. Chứng thực không nói ông Linh mất sức 61%. Quyết định số 32/QĐ ngày 28-10-1975 của Trung đoàn 240, Cục Hậu cần QK 5 cho ông Linh phục viên về xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. Quyết định số 402/QĐ năm 1976 của Ban CHQS huyện Vĩnh Bảo về việc di chuyển quân dự bị đối với ông Linh từ huyện về xã Hiệp Hòa. Quyết định này ghi rõ: “Theo Quyết định phục viên số 32 ngày 28-10-1975”. Bản khai nhân khẩu do ông Linh viết tay, không có dấu. Đơn năm 2002 của ông Linh viết sau 27 năm phục viên gửi Trung đoàn 240, Cục Hậu cần QK5 được Thiếu tá Nguyễn Ta, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 240 thời kỳ 1975 xác nhận ông Linh mất sức 61% khi ra quân, nhưng Cục Hậu cần QK5 do đồng chí Đinh Ngọc Dũng, Phó tham mưu trưởng Cục ký ngày 16-12-2002 có xác nhận nhưng không xác định ông Linh mất sức 61%.
Với những hồ sơ trên, từ tháng 10-2003, ông Linh liên tục gửi đơn đến các cơ quan chức năng của TP Hải Phòng và Trung ương đề nghị được giải quyết chế độ bệnh binh. Ngày 11-3-2004, Bộ CHQS TP Hải Phòng có công văn số 449/CV-BCH kèm hồ sơ báo cáo xin ý kiến Cục Chính sách. Ngày 25-5-2004, Cục Chính sách có công văn số 381/CS trả lời. Theo công văn: “Trường hợp ông Linh là quân nhân phục viên theo Quyết định số 32/QĐ ngày 28-10-1975 của Trung đoàn 240, Cục Hậu cần, QK 5. Bị “mất sức lao động 61%” như đơn ông trình bày không đủ căn cứ giải quyết chế độ bệnh binh và thời điểm đó quân đội không có quyền hạn giải quyết chế độ bệnh binh”.
Ngày 20-3-2005, đơn của ông Linh cũng đã được Chánh thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP Hải Phòng có công văn số 151 khẳng định: “Qua kiểm tra danh sách, hồ sơ bệnh binh, thương binh lưu trữ tại sở đều không có tên ông Trương Anh Linh. Căn cứ vào các tài liệu bản sao kèm theo đơn thì ông đã được cơ quan quân đội giải quyết chế độ phục viên theo Quyết định số 32/QĐ ngày 28-10-1975 của Trung đoàn 240 QK5 chứ không phải là đã giải quyết chế độ bệnh binh như đơn nêu”. Công văn cũng khẳng định: “Trong thời gian 2 năm kể từ khi về phục viên tại địa phương, ông có quyền đề nghị địa phương giới thiệu giám định sức khỏe tại Hội đồng giám định y khoa nơi cư trú để xem xét giải quyết chế độ bệnh binh. Nay ông mới đề nghị (sau 27 năm) giám định lại sức khỏe để giải quyết chế độ bệnh binh thì đề nghị của ông đã quá thời hạn, nên Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP Hải Phòng không có căn cứ để giải quyết chế độ bệnh binh cho ông được”.
Dù đã được trả lời nhưng ông Trương Anh Linh tiếp tục có đơn. Ngày 7-9-2005, Cục Chính sách có công văn số 228 khẳng định lại: Ông Trương Anh Linh không đủ căn cứ giải quyết chế độ bệnh binh và thời điểm đó quân đội không có quyền hạn giải quyết chế độ bệnh binh.
Ngày 7-6-2006, Bộ CHQS TP Hải Phòng đã tổ chức buổi làm việc gồm Chánh thanh tra Bộ CHQS Thành phố, đại diện Phòng Tổ chức Lao động huyện Vĩnh Bảo, cơ quan chính trị, Ban CHQS huyện Vĩnh Bảo và ông Linh. Tại buổi làm việc, Bộ CHQS Thành phố đề nghị ông Linh đưa các căn cứ (hồ sơ) để có cơ sở giải quyết nhưng ông Linh không đưa được thêm tài liệu nào nữa nên kết luận không có cơ sở giải quyết.
Theo số liệu thống kê được, thời gian từ tháng 10-2003 đến tháng 4-2008, Bộ CHQS thành phố Hải Phòng, Bộ tư lệnh Quân khu 3, UBND và Sở LĐTB & XH TP Hải Phòng đã 9 lần nhận được đơn đề nghị của ông Linh, 20 lần nhận phiếu chuyển và có văn bản trả lời các cơ quan chức năng và cá nhân ông Linh, trong đó có một lần tổ chức gặp mặt trực tiếp.Vậy nhưng ông Linh vẫn tiếp tục khiếu nại cho đến nay.
Mới đây, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Quốc phòng về việc nghiên cứu, xem xét, trả lời kiến nghị của ông Linh, ngày 13-11-2012, Tổng cục Chính trị đã có công văn số 1789 gửi ông Linh, khẳng định: “Khi về địa phương, ông không có đủ điều kiện và hồ sơ, thủ tục để giải quyết chế độ bệnh binh theo quy định tại Quyết định số 78/CP ngày 13-4-1978 của Chính phủ và Thông tư số 13/TBXH ngày 15-8-1978 của Bộ TBXH. Với những hồ sơ hiện có của ông, theo quy định không có cơ sở để giải quyết chế độ bệnh binh”. 
Như vậy, khiếu nại của ông đã được các cơ quan trong và ngoài quân đội nhiều lần trả lời và kết luận không đủ điều kiện giải quyết chế độ bệnh binh.
HÀ PHƯƠNG
Báo Quân Đội Nhân Dân Online



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH
3/2/13
Trưng cầu ý dân cho việc sửa đổi hiến pháp ! Việc nên làm

Trưng cầu ý dân cho việc sửa đổi hiến pháp ! Việc nên làm

Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH
Tác giả : Niềm Tin

 Đã ai biết tới đài VOA – Đài tiếng nói của nước Mỹ chưa? Tôi thì mới biết cách đây không lâu, là một công dân Việt Nam thì tôi cũng mong muốn tìm hiểu một số thông tin về đất nước Việt  Nam, con người Việt Nam,…qua các kênh thông tin khác nhau. Chính những mong muốn đó đã thôi thúc tôi tìm đọc những trang mạng xã hội, truy cập các thông tin từ mạng Internet, đó là nguyên cớ mà tôi tìm được trang mạng của đài VOA. Trong trang mạng này, tôi đặc biệt chú ý tới bài viết về cuộc phỏng vấn của một phóng viên VOA với ông Mai Thái Lĩnh ở Việt Nam. Trong cuộc phỏng vấn đó thì phóng viên VOA đã có sự lồng ghép giữa cái thực và cái hư, giữa quan điểm của ông Mai Thái Lĩnh nói riêng và người dân Việt Nam nói chung với quan điểm của người viết, một người đại diện cho đài tiếng nói của nước Mỹ. Nội dung của cuộc phỏng vấn liên quan vấn đề sửa đổi hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chúng đã lồng vào ngững luận điệu, lời văn nhằm bác bỏ việc trưng cầu ý dân cho việc sửa đổi hiến pháp (một bước quan trọng của việc hoàn thành hiến pháp nước ta), coi đó là việc không  có dân chủ thực sự, coi đó là không phải giải pháp để thực hiện dân chủ, rồi đi đến cái kết luận là quyền lập hiến của Việt Nam đang bị lạm dụng,…

trưng cầu ý dân, sửa đổi hiến pháp,dân oan,chính luận, phản biện,anh ba sam,ba sam,ba sàm,dân oan,dân chủ,nhân quyền,tự do tôn giáo,ba sam,ba sàm,xuân diện,bùi hàng,việt hưng,dân oan,chủ quyền biển đảo,biểu tình,tuổi trẻ yêu nước,con người Việt Nam, tôi yêu Việt Nam,Hồ chí Minh,bác Hồ,chính trị,'

      Thưa các bạn đọc của đài VOA, những con người xa tổ quốc Việt Nam, không ở trên đất nước Việt Nam và có thể là những người yêu chuộng hòa bình đang có những suy nghĩ sai lầm về Việt Nam sau khi đọc bài viết này. Tôi một người dân Việt Nam, đang sing sống học tập và làm việc trên đất nước này thật vinh dự và tự hào khi được đóng góp xây dựng hiến pháp, đạo luật cao nhất của Việt Nam, nguồn của luật pháp Việt Nam và là cơ sở cho việc hoạch định  chính sách  của Đảng và nhà nước. Chúng tôi rất hoan nghênh việc Đảng và nhà nước cho trưng cầu ý dân về xây dựng hiến pháp. Công tác này đã được các cơ quan chuyên trách của Đảng đẩy mạnh  và tuyên truyền tới mọi người dân, qua các kênh khác nhau có thể đóng góp ý kiến cho việc xây dựng bản hiến pháp như: các trang mạng chính thống, thư, đóng góp ý kiến cho thủ trưởng các đơn vị của mình, các sinh viên cũng được đóng góp ý kiến của mình qua các cuộc sinh hoạt lớp,…Một việc làm như vậy thì sao không không phát huy được dân chủ chứ!
      Trưng cầu ý dân hay bỏ phiếu toàn dân là một cuộc bỏ phiếu trực tiếp trong đó toàn bộ cử tri được yêu cầu chấp nhận hay phủ quyết một đề xuất đặc biệt. Trưng cầu ý dân đã được đề cập trong các hiến pháp trước đây. Điều 21 của hiến pháp năm 1946: “nhân dân có quyền phúc quyết về hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia…”Điều 32 của hiến pháp năm 1946 quy định: “Những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu 2 phần 3 nghị vện đồng ý…”. Hiến pháp 1959 việc quy định trưng cầu ý dân thể hiện tại điều 53, hiến pháp năm 1980 thì quy định tại điều 100 con hiến pháp gần đây nhất của Việt Nam, hiến pháp năm 1992 thì việc trưng cầu ý dân được quy định tại điều 53 và điều 84. Điều 53: “Công dân có quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội,tham gia thảo luận các vấn đề chung của nhà nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Khoản 14 điều 84 quy định: “ quốc hội có quyền quyết định việc trưng cầu ý dân”. Như vậy việc trưng cầu ý dân xuyên suốt từ khi chúng ta lập hiến tới nay, nó luôn được quy định trong các điều luật của hiến pháp Việt Nam. Hiện nay việc trưng cầu ý dân đực khá nhiều quốc gia dung và đạt được hiệu quả như Thụy sĩ, Úc, Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn quốc, Pháp,…như vậy thì tại sao việc trưng cầu ý dân cho việc sửa đổi hiến pháp của Việt Nam lại không đúng, không phù hợp, phải chăng không thực hiện việc sửa đổi hiến pháp giống  như chính phủ của phóng viên đài VOA đã làm thì cho là sai? Hay là vị phóng viên này không tim hiểu về thế giới xung quanh mình, chỉ biết quanh quẩn trong đất nước Mỹ của y mà thôi!
       Lại nói về viêc phỏng vấn mang tính chủ quan của phóng viên đài VOA – “đài tiếng nói của Mỹ”. Chúng nói: “ Việc trưng cầu ý dân là màn kịch che đậy bản chất phản động của chế độ khi mà chúng ta không đảm bảo được quyền tư do dân chủ”. Thật là lời lẽ lố bịch và thiếu căn cứ, đất nước Việt Nam sau khi thoát khỏi sự xâm lược của hai cường quốc lớn là Pháp và Mỹ tới nay luôn luôn ổn định và dảm bapr được hòa bình, nhân dân được đảm bảo quyền cơ bản, được phát triển toàn diện,…Mặt khác bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân và nhà nước ta cũng đang hướng tới xây dựng một xã hội tiên tiến, xã hội cộng sản chủ nghĩa, một ước mơ, một khao khát của xã hội loài người trên thế giới. Để đi được con đường đó thì không lí nào chúng  ta lại không đảm bảo được quyền dân chủ, quyền cơ bản của con người,… “Trưng cầu ý dân” lại được suy diễn ra là màn kịch của nhà nước ta, không hiểu con người đó đang nghĩ gì nữa? Một cách làm tốt nhằm phát huy quyền dan chủ hơn nữa lại được hiểu như thế thì việc làm như thế nào được coi là phát huy dân chủ đây hả “tác giả”?
       Mổi đài tiếng nói của Mỹ, hoạt động dưới sự quản lí của chính quyền Mỹ, hoạt động vì lợi ích của nhà nước Mỹ do đó cũng không thể trách họ được. Nếu như họ không viết những lời như vậy thì cơ quan này liệu  có tồn tại được không?. Để tồn tại, nhũng con người của cơ quan đó buộc phải làm như vậy thôi các bạn à! Nhưng đó là việc của họ để tồn tại, còn với chúng ta những người con đất Việt không thể đồng lõa hoặc tiếp tay cho chúng được. Để làm được điều đó, mỗi chúng ta cần cảnh giác hơn với những thông tin, những trang mạng như vậy. Và trước mắt, mỗi công dân Việt Nam hãy phát huy quyền cơ bản của mình, đóng góp các ý kiến cho việc xây dựng bản hiến pháp để nhanh chóng hoàn thiện bản hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Niềm Tin
26/1/13
Đảm bảo quyền con người ở Việt Nam

Đảm bảo quyền con người ở Việt Nam

Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Việt Nam luôn tôn trọng quyền con người, quyền con người là quyền thiêng liêng, cơ bản nhất là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình được Hiến pháp qui định, và trên thực tế quyền con người được bảo đảm. 
Hiện nay, quyền con người được các nước trên thế giới công nhận và bảo đảm thực hiện thông qua cơ chế, pháp luật quốc gia và quốc tế, đặc biệt là các công ước của Liên hợp quốc. Trong các văn kiện nhân quyền của Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và hai công ước quốc tế về quyền con người được thông qua năm 1966, cùng hai nghị định thư bổ sung của Công ước dân sự, chính trị được gọi là Bộ Luật nhân quyền quốc tế. 

đảm bảo quyền con người,anh ba sam,ba sam,ba sàm,dân oan,dân chủ,nhân quyền,tự do tôn giáo,ba sam,ba sàm,xuân diện,bùi hàng,việt hưng,dân oan,chủ quyền biển đảo,biểu tình,tuổi trẻ yêu nước,con người Việt Nam, tôi yêu Việt Nam,Hồ chí Minh,bác Hồ,chính trị,' n

Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyền con người là thành quả và khát vọng chung của nhân loại. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi. Cương lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: "Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân". Nhà nước Việt Nam luôn coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến pháp 1992- văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền. 

Thực tiễn cho thấy, quyền con người ở Việt Nam luôn gắn với độc lập, hòa bình, dân chủ và phát triển. Việc đấu tranh và duy trì một môi trường hòa bình, ổn định là một thành tựu to lớn và cũng là nền tảng vững chắc cho việc bảo vệ và thực hiện các quyền con người ở Việt Nam, thể hiện trên một số nội dung sau:
 
Bảo đảm các quyền dân sự, chính trị:
Trong Hiến pháp 1992, có 5 quyền quan trọng được ban hành bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm cả tư liệu sản xuất); quyền tự do kinh doanh; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền được thông tin theo luật định; quyền bình đẳng của các tôn giáo; quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn đề cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và mở rộng việc bảo vệ, giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.
Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền dân sự, chính trị của công dân, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, chỉ tính trong giai đoạn 1996 -2001, Quốc hội đã thông qua 40 đạo luật, ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 40 Pháp lệnh có liên quan đến vấn đề này, tiêu biểu là Bộ Luật Hình sự; Bộ Luật Tố tụng hình sự; Bộ Luật Dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Quốc tịch Việt Nam; Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Pháp lệnh Xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 27/5/2004, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật Tố tụng dân sự đầu tiên ở Việt Nam, bổ sung một công cụ pháp lý quan trọng để bảo đảm các quyền dân sự.
Bảo đảm các quyền kinh tế, Văn hóa, xã hội
Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới, từ năm 1986 đến nay, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có thể kể như Bộ Luật Dân sự (1995), Bộ Luật Lao động (1994), Luật Giáo dục (1998), Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (1991), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Pháp lệnh về người tàn tật (1998)…
Thành công nổi bật nhất trong việc thực hiện quyền được bảo đảm xã hội ở nước ta từ khi đổi mới đến nay là việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo – một chủ trường và quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Xuất phát từ quan điểm: Vấn đề nghèo khó không được giải quyết thì không có một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hòa bình, ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện, Nhà nước ta đã coi Chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong bảy chương trình mục tiêu quốc gia và đã có những ưu tiên đặc biệt về nguồn nhân lực, vật lực cho chương trình này.
Quyền con người ở Việt Nam ngày càng được bảo đảm tốt hơn cùng với những tiến bộ đạt được trong tăng trưởng kinh tế. Điều đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, muốn là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, nỗ lực đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.

Vân Thanh

Đảm bảo quyền con người ở Việt Nam

Đảm bảo quyền con người ở Việt Nam

Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻNhân dân-QĐND-VNCH

Việt Nam luôn tôn trọng quyền con người, quyền con người là quyền thiêng liêng, cơ bản nhất là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình được Hiến pháp qui định, và trên thực tế quyền con người được bảo đảm. 
Hiện nay, quyền con người được các nước trên thế giới công nhận và bảo đảm thực hiện thông qua cơ chế, pháp luật quốc gia và quốc tế, đặc biệt là các công ước của Liên hợp quốc. Trong các văn kiện nhân quyền của Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và hai công ước quốc tế về quyền con người được thông qua năm 1966, cùng hai nghị định thư bổ sung của Công ước dân sự, chính trị được gọi là Bộ Luật nhân quyền quốc tế. 

đảm bảo quyền con người,anh ba sam,ba sam,ba sàm,dân oan,dân chủ,nhân quyền,tự do tôn giáo,ba sam,ba sàm,xuân diện,bùi hàng,việt hưng,dân oan,chủ quyền biển đảo,biểu tình,tuổi trẻ yêu nước,con người Việt Nam, tôi yêu Việt Nam,Hồ chí Minh,bác Hồ,chính trị,' n

Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyền con người là thành quả và khát vọng chung của nhân loại. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi. Cương lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: "Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân". Nhà nước Việt Nam luôn coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến pháp 1992- văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền. 

Thực tiễn cho thấy, quyền con người ở Việt Nam luôn gắn với độc lập, hòa bình, dân chủ và phát triển. Việc đấu tranh và duy trì một môi trường hòa bình, ổn định là một thành tựu to lớn và cũng là nền tảng vững chắc cho việc bảo vệ và thực hiện các quyền con người ở Việt Nam, thể hiện trên một số nội dung sau:
 
Bảo đảm các quyền dân sự, chính trị:
Trong Hiến pháp 1992, có 5 quyền quan trọng được ban hành bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm cả tư liệu sản xuất); quyền tự do kinh doanh; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền được thông tin theo luật định; quyền bình đẳng của các tôn giáo; quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn đề cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và mở rộng việc bảo vệ, giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.
Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền dân sự, chính trị của công dân, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, chỉ tính trong giai đoạn 1996 -2001, Quốc hội đã thông qua 40 đạo luật, ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 40 Pháp lệnh có liên quan đến vấn đề này, tiêu biểu là Bộ Luật Hình sự; Bộ Luật Tố tụng hình sự; Bộ Luật Dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Quốc tịch Việt Nam; Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Pháp lệnh Xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 27/5/2004, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật Tố tụng dân sự đầu tiên ở Việt Nam, bổ sung một công cụ pháp lý quan trọng để bảo đảm các quyền dân sự.
Bảo đảm các quyền kinh tế, Văn hóa, xã hội
Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới, từ năm 1986 đến nay, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có thể kể như Bộ Luật Dân sự (1995), Bộ Luật Lao động (1994), Luật Giáo dục (1998), Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (1991), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Pháp lệnh về người tàn tật (1998)…
Thành công nổi bật nhất trong việc thực hiện quyền được bảo đảm xã hội ở nước ta từ khi đổi mới đến nay là việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo – một chủ trường và quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Xuất phát từ quan điểm: Vấn đề nghèo khó không được giải quyết thì không có một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hòa bình, ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện, Nhà nước ta đã coi Chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong bảy chương trình mục tiêu quốc gia và đã có những ưu tiên đặc biệt về nguồn nhân lực, vật lực cho chương trình này.
Quyền con người ở Việt Nam ngày càng được bảo đảm tốt hơn cùng với những tiến bộ đạt được trong tăng trưởng kinh tế. Điều đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, muốn là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, nỗ lực đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.

Vân Thanh

17/1/13
Quan tâm hỗ trợ người lao động bị mất việc làm

Quan tâm hỗ trợ người lao động bị mất việc làm


Năm nay, trong bối cảnh chung của kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, ngừng sản xuất, kinh doanh kéo theo hàng nghìn người lao động bị mất việc làm, việc làm không ổn định... Vì vậy, đời sống người lao động gặp rất nhiều khó khăn, vất vả. Nhất là trong thời điểm hiện nay, khi những ngày Tết cổ truyền của dân tộc đang cận kề, việc hàng nghìn công nhân ở khắp mọi miền đất nước bị mất việc làm, thu nhập không ổn định sẽ dễ dẫn đến tâm lý chán nản...

Quan tâm hỗ trợ người lao động,anh ba sam,ba sam,ba sàm,dân oan,dân chủ,nhân quyền,tự do tôn giáo,ba sam,ba sàm,xuân diện,bùi hàng,việt hưng,dân oan,chủ quyền biển đảo,biểu tình,tuổi trẻ yêu nước,con người Việt Nam, tôi yêu Việt Nam,Hồ chí Minh,bác Hồ,chính trị,

  Chính vì vậy, việc quan tâm, hỗ trợ kịp thời người lao động bị mất việc làm vượt qua khó khăn là rất quan trọng. Trước hết, các cơ quan chức năng tại các địa phương cần phải nắm vững thực trạng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn để có hướng xử lý kịp thời khi có vấn đề xảy ra. Trong đó, đặc biệt chú trọng việc giám sát các doanh nghiệp thực hiện việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động theo quy định của pháp luật. Tích cực, chủ động triển khai việc tìm kiếm, giới thiệu người lao động đến các công ty, doanh nghiệp khác để họ có thể tiếp tục làm việc, ổn định cuộc sống. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc tuyên truyền trong người lao động về các bộ luật liên quan, nhất là giới thiệu những quy định về bảo hiểm thất nghiệp, BHXH, BHYT... để người lao động hiểu rõ, cụ thể về quyền lợi của mình khi có biến động xảy ra tại nơi làm việc. Cùng với công đoàn, các tổ chức đoàn thể khác như Ðoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ các cấp... cần triển khai những hoạt động hỗ trợ cụ thể, thiết thực để góp phần giúp người lao động có thêm điều kiện vượt qua khó khăn. Ðể bảo vệ mình, bản thân mỗi người lao động cần tự nghiên cứu, trang bị kiến thức pháp luật, hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình trong thực hiện pháp luật lao động.
  Trong thực tế, những dự án đầu tư có quy mô càng lớn thì khi phá sản, ngừng sản xuất, kinh doanh sẽ tác động càng mạnh, càng rộng đến đời sống của người lao động. Chính vì vậy, công tác quản lý hoạt động, yêu cầu các doanh nghiệp đóng đầy đủ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sẽ góp phần quan trọng bảo đảm tốt, kịp thời việc xử lý những vấn đề phát sinh khi nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngừng hoạt động, qua đó hạn chế những tác động tiêu cực đối với đời sống người lao động và hoạt động xã hội.
  Thời gian tới, các cơ quan chức năng cần tiếp tục tập trung đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra việc các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp... cho người lao động theo quy định của pháp luật. Chú trọng giám sát và có cơ chế xử phạt nghiêm minh đối với những doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với người lao động. Ðối với những doanh nghiệp cố ý chây ỳ có hệ thống và vi phạm pháp luật lao động, các cơ quan chức năng cần kiên quyết khởi kiện để góp phần bảo vệ quyền lợi thiết thực của người lao động. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn  trong việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho công đoàn viên.
  ÐINH SONG LINH - Báo Nhân Dân 

Quan tâm hỗ trợ người lao động bị mất việc làm

Quan tâm hỗ trợ người lao động bị mất việc làm


Năm nay, trong bối cảnh chung của kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, ngừng sản xuất, kinh doanh kéo theo hàng nghìn người lao động bị mất việc làm, việc làm không ổn định... Vì vậy, đời sống người lao động gặp rất nhiều khó khăn, vất vả. Nhất là trong thời điểm hiện nay, khi những ngày Tết cổ truyền của dân tộc đang cận kề, việc hàng nghìn công nhân ở khắp mọi miền đất nước bị mất việc làm, thu nhập không ổn định sẽ dễ dẫn đến tâm lý chán nản...

Quan tâm hỗ trợ người lao động,anh ba sam,ba sam,ba sàm,dân oan,dân chủ,nhân quyền,tự do tôn giáo,ba sam,ba sàm,xuân diện,bùi hàng,việt hưng,dân oan,chủ quyền biển đảo,biểu tình,tuổi trẻ yêu nước,con người Việt Nam, tôi yêu Việt Nam,Hồ chí Minh,bác Hồ,chính trị,

  Chính vì vậy, việc quan tâm, hỗ trợ kịp thời người lao động bị mất việc làm vượt qua khó khăn là rất quan trọng. Trước hết, các cơ quan chức năng tại các địa phương cần phải nắm vững thực trạng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn để có hướng xử lý kịp thời khi có vấn đề xảy ra. Trong đó, đặc biệt chú trọng việc giám sát các doanh nghiệp thực hiện việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động theo quy định của pháp luật. Tích cực, chủ động triển khai việc tìm kiếm, giới thiệu người lao động đến các công ty, doanh nghiệp khác để họ có thể tiếp tục làm việc, ổn định cuộc sống. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc tuyên truyền trong người lao động về các bộ luật liên quan, nhất là giới thiệu những quy định về bảo hiểm thất nghiệp, BHXH, BHYT... để người lao động hiểu rõ, cụ thể về quyền lợi của mình khi có biến động xảy ra tại nơi làm việc. Cùng với công đoàn, các tổ chức đoàn thể khác như Ðoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ các cấp... cần triển khai những hoạt động hỗ trợ cụ thể, thiết thực để góp phần giúp người lao động có thêm điều kiện vượt qua khó khăn. Ðể bảo vệ mình, bản thân mỗi người lao động cần tự nghiên cứu, trang bị kiến thức pháp luật, hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình trong thực hiện pháp luật lao động.
  Trong thực tế, những dự án đầu tư có quy mô càng lớn thì khi phá sản, ngừng sản xuất, kinh doanh sẽ tác động càng mạnh, càng rộng đến đời sống của người lao động. Chính vì vậy, công tác quản lý hoạt động, yêu cầu các doanh nghiệp đóng đầy đủ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sẽ góp phần quan trọng bảo đảm tốt, kịp thời việc xử lý những vấn đề phát sinh khi nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngừng hoạt động, qua đó hạn chế những tác động tiêu cực đối với đời sống người lao động và hoạt động xã hội.
  Thời gian tới, các cơ quan chức năng cần tiếp tục tập trung đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra việc các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp... cho người lao động theo quy định của pháp luật. Chú trọng giám sát và có cơ chế xử phạt nghiêm minh đối với những doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với người lao động. Ðối với những doanh nghiệp cố ý chây ỳ có hệ thống và vi phạm pháp luật lao động, các cơ quan chức năng cần kiên quyết khởi kiện để góp phần bảo vệ quyền lợi thiết thực của người lao động. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn  trong việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho công đoàn viên.
  ÐINH SONG LINH - Báo Nhân Dân 

14/1/13
Điều 88 Bộ luật Hình sự với quyền con người và quyền công dân

Điều 88 Bộ luật Hình sự với quyền con người và quyền công dân

Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-

QĐND - Trong những ngày gần đây, nhiều trang mạng trong và ngoài nước dấy lên đòi hỏi Nhà nước ta thực hiện quyền con người (QCN). Người ta kêu gọi: “Chính quyền… thực thi những QCN đã được Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và những Công ước quốc tế nhân quyền mà Việt Nam tham gia”. Trong những quyền đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo Điều 69, Hiến pháp năm 1992  và “Điều 19, Điều 21, Điều 22 Công ước quốc tế nhân quyền, năm 1966, mà Việt Nam gia nhập năm 1982”.
Có người còn đưa ra “sáng kiến” k?ý tên vào “Lời kêu gọi Quốc hội Việt Nam” đòi hủy bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” và Nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ “Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”. Những hoạt động trên mạng này đã được nhiều phương tiện truyền thông phương Tây đăng tải và “tăng âm”, khiến một số người nghi ngờ về hệ thống pháp luật và bản chất của chế độ ta.

Theo họ, Điều 88 Bộ luật Hình sự “Quy định một cách mù mờ về tội danh tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, thực chất là bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, là “gây nguy hiểm cho trí thức”…
Vậy nội dung và thực chất Điều 88, Bộ luật Hình sự như thế nào?
Điều 88 quy định như sau: “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam… bao gồm:
a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước CHNXHCN Việt Nam.
Cũng trên những trang mạng đã đưa tin này, người ta nhắc lại nhiều bản án đã tuyên như vụ án Cù Huy Hà Vũ, vụ án “Câu lạc bộ nhà báo tự do” để làm bằng chứng.
Để làm rõ vấn đề này, trước hết cần nhận rõ sự thống nhất và khác biệt giữa quyền công dân (QCD) và QCN.
Dựa trên Bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”, 1948 và “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966"; “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, xã hội và văn hóa, 1966”[1] có thể hiểu QCN như sau: Với tư cách là một giá trị đạo đức, QCN là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Những giá trị này bao gồm: Nhân phẩm, tự do, bình đẳng, tinh thần nhân đạo, khoan dung và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng. Với tư cách là một giá trị pháp lý, QCN là các quy định pháp luật (trong luật quốc tế và còn được nội luật hóa trong luật quốc gia) nhằm bảo vệ nhu cầu về các mặt: Dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của mọi người và nghĩa vụ của mỗi người đối với cộng đồng.
So với khái niệm QCN, khái niệm QCD mang tính xác định hơn. Khái niệm này gắn liền với chế độ xã hội, những đặc thù về lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc. Trong Hiến pháp Việt Nam cũng như Hiến pháp của nhiều quốc gia khác, QCD thường được gắn liền với nghĩa vụ công dân, hình thành khái niệm Quyền và nghĩa vụ công dân (Q&NVCD) được quy định trong pháp luật quốc gia.
Vấn đề bảo vệ chế độ chính trị, giữ ổn định xã hội đã được các quốc gia trong cộng đồng quốc tế quan tâm từ lâu. Tại “Hội nghị quốc tế về quyền con người” ở Viên (Áo), năm 1993, đại diện các quốc gia đã ra Tuyên bố khẳng định: "Tất cả các QCN đều mang tính phổ cập…Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo;…”[2].
Trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966" nhiều quyền và tự do của con người cũng bị hạn chế, trong đó có Điều 19. Điều này quy định: …“2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận… Việc thực hiện những quyền quy định ở mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, để: a) Tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”[3].
Không phủ nhận rằng Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước này từ năm 1992, song điều đó không có nghĩa Việt Nam không có quyền đưa ra những hạn chế luật định về quyền tự do ngôn luận. Do đó Điều 88, Bộ luật Hình sự, 1999 là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với “Tuyên bố Viên và chương trình hành động; phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966”.
Không chỉ trong pháp luật Việt Nam mà trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có cả những quốc gia phương Tây đã đưa ra những quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, báo chí và tự do internet. Những quy định này tùy thuộc vào tình hình chính trị xã hội và quan điểm của những quốc gia đó.
Ngày nay, trong khi đánh giá cao vai trò của internet, người ta cũng thấy rõ những mặt trái của nó. Quan điểm cực đoan về tự do ngôn luận, báo chí của phương Tây đã phải trả giá đắt. Chẳng hạn những vụ việc được các phương tiện truyền thông đưa tin như vụ một mục sư đạo Tin lành Mỹ đòi đốt kinh Cô-ran, vụ việc lính Mỹ đốt kinh Cô-ran ở Áp-ga-ni-xtan, vụ họa sĩ Đan Mạch vẽ tranh biếm họa và bộ phim được cho là báng bổ nhà tiên tri Mô-ha-mét được sản xuất ở Mỹ năm ngoái…, về khách quan đã “kích hoạt” những mâu thuẫn xã hội, làm cho sự bất bình của một bộ phận nhỏ dân cư bùng lên trở thành bạo loạn xã hội.
Ở Việt Nam, trên một số trang mạng, với những lý do khác nhau, người ta  không chỉ tuyên truyền, áp đặt các quan điểm dân chủ, nhân quyền ngoại nhập, mà còn xuyên tạc chủ trương, chính sách; bôi nhọ, vu cáo trắng trợn Đảng và Nhà nước, thậm chí xuyên tạc lịch sử  Cách mạng Việt Nam, xúc phạm lãnh tụ. Đó là chưa kể người ta còn khuyến khích những phần tử cực đoan trong tôn giáo, dân tộc thiểu số gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi thành lập nhà nước riêng (nhà nước Đề-ga, nhà nước H‘Mông) trong lòng nước CHXHCN Việt Nam.
Kêu gọi xóa bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự, 1999 chính là một bước đi quan trọng trong âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch nhằm tước bỏ công cụ pháp lý cơ bản bảo vệ chế độ xã hội và Nhà nước của nhân dân ta.
Không phủ nhận rằng ở Việt Nam còn nhiều vấn đề xã hội phải giải quyết, thậm chí có những bức xúc xã hội, nhất là tình trạng phân hóa giàu nghèo, “lợi ích nhóm”, tình trạng có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư  tưởng chính trị, đạo đức lối sống như Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra.
Hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, tăng cường quyền được thông tin, quyền giám sát, quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của người dân là một yêu cầu tất yếu, để phát triển mọi mặt xã hội ta. Đồng thời đó cũng là biện pháp cơ bản để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.
Khắc phục những mặt tiêu cực này là một công việc lớn lao, phức tạp, lâu dài, không thể làm trong một sớm, một chiều. Việc Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm, như tiếp tục triển khai Nghị quyết Trung ương 4, lấy ý kiến nhân dân để sửa đổi Hiến pháp 1992 đều hướng tới mục tiêu nói trên.
Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị hiện nay, chúng ta không thể xem nhẹ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những quyền tự do ngôn luận, báo chí nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ, gây mất ổn định chính trị, từng bước đi đến xóa bỏ chế độ ta xã hội XHCN và Nhà nước của nhân dân ta.
[1] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “ Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”. HN, 2002, Tr 28, 249, 284
[2] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”. HN, 2002. Tr 44
[3] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”. HN, 2002. Tr 259
ĐỨC GIANG - Báo QĐND

7/1/13
no image

Hiến định thêm nhiều quyền con người



QĐND - Quyền con người và quyền công dân là vấn đề đặc biệt quan trọng trong các bản Hiến pháp trên thế giới. Ở nước ta, nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân luôn được khẳng định trong các bản Hiến pháp kể từ ngày thành lập nước tới nay. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 vừa được công bố tiếp tục kế thừa và phát huy quyền con người và bổ sung một số quyền mới là kết quả của quá trình đổi mới 25 năm qua ở nước ta, phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Quyền con người được hiểu là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Còn quyền công dân gắn liền với mỗi quốc gia, được pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Và do gắn với đặc thù của mỗi quốc gia mà nội dung, số lượng, chất lượng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau.

Có thể nói, Hiến pháp 1992 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận của Đảng ta về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển con người, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân. Tuy nhiên, những quy định của Hiến pháp 1992 chưa có sự phân biệt rõ quyền con người và quyền công dân, một số quyền quan trọng là kết quả của quá trình đổi mới chưa được ghi nhận trong Hiến pháp; chưa xác định cụ thể cơ chế, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người và quyền công dân… Do đó, một số quyền trong Hiến pháp 1992 thiếu tính khả thi. Việc quy định tại Chương V của Hiến pháp chưa thể hiện đúng mức tầm quan trọng của vấn đề này. Vì vậy, Ban soạn thảo dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp trước đây, tiếp thu có chọn lọc các bản Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới, thể chế hóa các quan điểm cơ bản của Đảng ta về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân đã xây dựng một chương riêng và để ở vị trí quan trọng (Chương II) hiến định nguyên tắc bảo vệ quyền con người, bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân theo đúng bản chất của một bản Hiến pháp.

Chương II của dự thảo Hiến pháp mới được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại Chương V (Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) của Hiến pháp 1992, chuyển các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân tại các chương khác về chương này, làm rõ nội dung của quyền con người, quyền công dân, trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bổ sung một số quyền mới là kết quả của quá trình đổi mới 25 năm qua ở nước ta, phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở đó sắp xếp lại các điều theo các nhóm quyền, nghĩa vụ để bảo đảm tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân.
Chương II có 38 điều, trong đó có 5 điều mới hoàn toàn (Điều 16, Điều 21, Điều 44, Điều 45 và Điều 46), 30 điều được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở một số điều của Hiến pháp năm 1992, chỉ có 3 điều được giữ nguyên.

Điều 16 được bổ sung mới để khẳng định nguyên tắc quan trọng của quyền con người trong mối quan hệ với người khác và các quy định được thể hiện trong các Công ước quốc tế. Trong đó quy định “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” và “Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” .

Điều 21 (mới) rất ngắn gọn: “Mọi người có quyền sống”. Theo Ban soạn thảo, việc bổ sung điều này cho phù hợp với quyền sống trong Công ước về các quyền dân sự, chính trị (Điều 3) mà Việt Nam là thành viên. Quyền sống cũng đã được ghi nhận trong nhiều bộ luật và luật của nước ta, vì vậy, cần nâng lên thành quyền hiến định sẽ góp phần bảo đảm thực thi và nâng cao uy tín của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.

Điều 44 (mới) quy định: Mọi người có quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người thực hiện các quyền về văn hóa. Điều này khẳng định quyền văn hóa của con người như quy định trong Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa.

Để phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, xuất phát từ thực tế ở Việt Nam với 54 dân tộc khác nhau sinh sống, Dự thảo bổ sung một điều mới (Điều 45) ghi nhận về quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Điều này ghi rõ “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”.

Ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường đe dọa đến quyền sống, quyền bảo vệ sức khỏe và quyền phát triển của con người, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của các quốc gia. Vì vậy, Dự thảo Hiến pháp đã bổ sung quy định về quyền sống trong môi trường trong lành để phù hợp với thực tiễn hiện nay với đòi hỏi ngày càng lớn hơn trong tương lai về vấn đề môi trường trong Điều 46 (mới). Điều này quy định “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và được thông tin về chất lượng môi trường sống. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của con người” và “Mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nghiêm cấm mọi hành vi hủy hoại môi trường”.

Một số điều khác trong Chương II cũng được sửa đổi, bổ sung nhằm phát huy quyền con người, quyền công dân. Chẳng hạn, Điều 17 khẳng định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội". Đây là hiến định nguyên tắc cơ bản của quyền con người, làm rõ nội hàm của quyền bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, xác định rõ các trường hợp hạn chế quyền con người, quyền công dân nhằm ngăn ngừa việc hạn chế quyền con người, quyền công dân bằng văn bản dưới luật.

Điều 25 (sửa đổi, bổ sung Điều 70), quy định rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Theo Ban soạn thảo, Điều 25 sửa đổi, bổ sung Điều 70 của Hiến pháp 1992 để phù hợp với Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự, đồng thời cụ thể hóa một số khía cạnh chưa được nêu rõ trong Điều 70, tạo cơ sở bảo đảm thực hiện tốt hơn, đồng thời phòng ngừa những hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thực tế.

Điều 48 của dự thảo Hiến pháp mới được xây dựng trên cơ sở Điều 77 của Hiến pháp năm 1992 và bổ sung nghĩa vụ thay thế để làm rõ nghĩa vụ công dân cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trong đó quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định”.

Rõ ràng, quyền con người, quyền công dân luôn được Nhà nước ta khẳng định nhất quán và không ngừng được hoàn thiện, phát triển qua các bản Hiến pháp kể từ Hiến pháp 1946 tới nay.

Copyright © 2012 The Best Template Blogger All Right Reserved