BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Rss

19/12/12
Bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta

Bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta


QĐND - Là chế độ tôn trọng con người, trước khi trở thành thành viên của Liên hợp quốc (ngày 20 tháng 9 năm 1977), Việt Nam đã tự nguyện gia nhập nhiều công ước về Luật Nhân đạo quốc tế, (về nội dung cũng mang tính nhân quyền) như “Công ước Giơ-ne-vơ về bảo vệ thường dân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957), “Công ước Giơ-ne-vơ về đối xử với tù nhân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957)…
Trước thời kỳ đổi mới, vào năm 1982, Việt Nam đã gia nhập hai Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, đó là “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị" và “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (cùng được phê chuẩn năm 1966) (theo "Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. HN. 2002, tr249, 284).
Nhằm bảo đảm quyền của người dân đồng thời phát triển xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng việc xây dựng các thể chế quốc gia phù hợp với đặc thù lịch sử, văn hóa dân tộc. Trong đó có nguyên tắc các cơ quan tư pháp hoạt động độc lập. Đồng thời, Nhà nước có cơ chế chính sách tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội ngày càng được nâng cao. Văn kiện Đại hội XI, năm 2011, tái khẳng định vai trò giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức trên. Trong nhiều nhiệm kỳ qua, vai trò của Quốc hội ngày càng được nâng cao. Trong các kỳ họp, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ phải trả lời chất vấn công khai, được truyền hình trực tiếp những vấn đề cử tri và các đại biểu quan tâm.
Việt Nam luôn coi trọng việc đảm bảo các quyền con người
Quyền làm chủ trực tiếp của người dân cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Từ một Chỉ thị của Đảng (Chỉ thị Số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở), với nhiều yêu cầu, đặc biệt là: Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hằng ngày của nhân dân tại cơ sở, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh bảo đảm quyền được biết, được bàn, được kiểm tra và quyết định những vấn đề kinh tế, xã hội của người dân ở cơ sở. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý của phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Ngoài Luật Báo chí, Nhà nước đã ban hành các quy định cơ quan Chính phủ có trách nhiệm định kỳ và khi cần cung cấp thông tin cho báo chí. Các cơ quan truyền thông của Việt Nam phát triển nhanh chóng. Cho đến nay, cả nước có hơn 700 cơ quan báo chí; 68 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và tỉnh, thành phố, hơn 80 báo điện tử, hàng nghìn trang tin điện tử và blog… Người dân Việt Nam ngày nay còn được tiếp cận với nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như Roi-tơ, BBC, VOA, AP, AFP, CNN… Tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Trên lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và trong từng chính sách phát triển… tiếp tục hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội… giúp đỡ mọi thành viên xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương…”. Để bảo đảm hành lang pháp lý cho các hoạt động của cơ quan Nhà nước và công dân, nhiều Bộ luật, luật sửa đổi và luật mới được ban hành dựa trên các nguyên tắc: Tôn trọng con người, quyền con người; Dân chủ XHCN; Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm Quốc gia, Việt Nam đã nội luật hóa các công ước quốc tế mà mình đã tham gia. Có thể dẫn ra những luật sau: Luật Bảo vệ sức khỏe người dân năm 1989, Luật Giáo dục năm 1998, Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Bình đẳng giới năm 2011...
Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các Chiến lược và Chương trình phát triển kinh tế-xã hội được triển khai, mức sống của người dân đã có những thay đổi đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người vào năm 1990 khoảng 200USD, đến năm 2010 ước khoảng 1.200USD. Đến nay, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trong việc hưởng thụ thành tựu phát triển, Nhà nước đã có nhiều chương trình kinh tế-xã hội hướng vào nâng cao đời sống của người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Báo cáo của Ủy ban Dân tộc, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006-2010), ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu USD. Từ nguồn vốn trên, Chương trình đã xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trong cả nước, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cụ thể. Với kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ của doanh nghiệp, Quỹ vì người nghèo các địa phương… đến hết năm 2010, các huyện đã cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm tại 62 huyện nghèo với 73.418 căn nhà, đạt 94,58% kế hoạch. Hiện nay, chương trình nhà ở xã hội của Chính phủ đang được triển khai tích cực ở nhiều địa phương nhằm trợ giúp cho công nhân, người thu nhập thấp và sinh viên.
Các quyền tự do cơ bản của con người là mục tiêu lớn, mục tiêu đó như đường chân trời, người ta càng đi đến thì chân trời càng lùi xa. Đơn giản vì nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người ngày càng cao, là không có giới hạn.
Không phủ nhận rằng, hiện nay Việt Nam đang phải đối diện với không ít những vấn đề về kinh tế, xã hội liên quan đến quyền con người, như: Thể chế phân công phối hợp có sự giám sát về quyền lực chưa có hiệu quả như nhiều đại biểu Quốc hội vừa qua đã phát biểu; sự phân hóa giàu nghèo có khuynh hướng gia tăng, thậm chí ngay cả trong Đảng, như đồng chí Tổng bí thư đã nói; hoặc sự hình thành “lợi ích nhóm” trong thời gian qua là những ví dụ…
Tuy nhiên, với việc nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH, với truyền thống cách mạng, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng, Đảng ta sẽ hoàn thành được sứ mệnh lịch sử mà dân tộc đã giao phó - xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. 
PHƯƠNG ANH
(Báo Điện Tử Quân Đội Nhân Dân)
Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp

Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp


QĐND - Với 100% số đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XIII vừa thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc lấy ý kiến nhân dân nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng trên một số diễn đàn vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng cho rằng “việc lấy ý kiến nhân dân chỉ là hình thức” và “Đảng Cộng sản Việt Nam đã độc đoán sửa đổi Hiến pháp”…
Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng của quốc gia. Nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Mục đích của lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm phát huy quyền làm chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; Huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Hiến pháp và việc thi hành Hiến pháp.
Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bao gồm: Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.
Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức như góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác.
Theo kế hoạch ban đầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, dự kiến thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là hai tháng (tháng 3 và tháng 4 năm 2013). Tuy nhiên, do mục đích, yêu cầu và nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, để có đủ thời gian triển khai sâu rộng việc lấy ý kiến trong các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để việc lấy ý kiến nhân dân thực sự chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, tại kỳ họp thứ 4 vừa qua, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề nghị Quốc hội và được Quốc hội nhất trí cao cho phép tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.
Trước đó, tại Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thảo luận, thống nhất cao về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các định hướng lớn, phương châm và phương pháp tiến hành; xác định việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Thông báo của Hội nghị khẳng định: “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng cần được tiến hành chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân”.
Như vậy, cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đánh giá cao vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Thực tế trong lịch sử lập hiến của nước ta, việc xây dựng, ban hành Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (vào năm 2001) đều tiến hành tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Các ý kiến tâm huyết của nhân dân đều được Ban soạn thảo tiếp thu, đưa vào dự thảo.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 được kế thừa kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đây, trong đó có kinh nghiệm quan trọng nhất là phải phát huy đầy đủ và sâu sắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho rằng: “Để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý quan trọng, rộng lớn trong nhân dân và cả hệ thống chính trị, Ủy ban đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”.
Thực tế đã rõ ràng như vậy mà vẫn còn có ý kiến lạc lõng trên một số diễn đàn cho rằng, “việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thay công việc của Quốc hội”…
Ai cũng biết rằng, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là một việc làm bình thường, đúng pháp luật, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước. Thực tiễn cho thấy, nước ta đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và cả 4 lần đều thu được kết quả tốt đẹp góp phần đưa đất nước tiến lên theo đúng mục tiêu đặt ra là nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nghị quyết của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Tổ chức lấy ý kiến nhân dân với các hình thức thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân cả ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực và tiết kiệm. Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác; phải được nghiên cứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện, nâng cao chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến; phản ánh trung thực, kịp thời ý kiến tham gia của nhân dân.
Việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền và biên giới quốc gia của các nước, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ các nước, đồng thời góp phần xây dựng và bảo vệ nền hòa bình của khu vực và thế giới.
Nhân dân Việt Nam hiểu và tôn trọng những thành quả mà Đảng, Bác Hồ và toàn thể nhân dân đã giành được từ trong khổ đau lầm than và nô lệ. Chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cố tình quay lưng lại với con đường cách mạng Việt Nam, cố tình xuyên tạc, nói xấu và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và của nhân dân Việt Nam trong tiến trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị để việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Hiến pháp mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, cần có quy định cấm về hành vi xuyên tạc, bôi xấu trong việc lấy ý kiến. Mọi ý kiến của nhân dân phải được tiếp thu tối đa, chỗ nào tiếp thu cần nói rõ, chỗ nào không tiếp thu cũng cần giải thích rõ để nhân dân hiểu.
ĐỖ PHÚ THỌ
(Báo Điện Tử Quân Đội Nhân Dân)

Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp

Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp


QĐND - Với 100% số đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XIII vừa thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc lấy ý kiến nhân dân nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng trên một số diễn đàn vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng cho rằng “việc lấy ý kiến nhân dân chỉ là hình thức” và “Đảng Cộng sản Việt Nam đã độc đoán sửa đổi Hiến pháp”…
Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng của quốc gia. Nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Mục đích của lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm phát huy quyền làm chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; Huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Hiến pháp và việc thi hành Hiến pháp.
Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bao gồm: Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.
Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức như góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác.
Theo kế hoạch ban đầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, dự kiến thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là hai tháng (tháng 3 và tháng 4 năm 2013). Tuy nhiên, do mục đích, yêu cầu và nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, để có đủ thời gian triển khai sâu rộng việc lấy ý kiến trong các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để việc lấy ý kiến nhân dân thực sự chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, tại kỳ họp thứ 4 vừa qua, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề nghị Quốc hội và được Quốc hội nhất trí cao cho phép tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.
Trước đó, tại Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thảo luận, thống nhất cao về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các định hướng lớn, phương châm và phương pháp tiến hành; xác định việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Thông báo của Hội nghị khẳng định: “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng cần được tiến hành chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân”.
Như vậy, cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đánh giá cao vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Thực tế trong lịch sử lập hiến của nước ta, việc xây dựng, ban hành Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (vào năm 2001) đều tiến hành tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Các ý kiến tâm huyết của nhân dân đều được Ban soạn thảo tiếp thu, đưa vào dự thảo.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 được kế thừa kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đây, trong đó có kinh nghiệm quan trọng nhất là phải phát huy đầy đủ và sâu sắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho rằng: “Để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý quan trọng, rộng lớn trong nhân dân và cả hệ thống chính trị, Ủy ban đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”.
Thực tế đã rõ ràng như vậy mà vẫn còn có ý kiến lạc lõng trên một số diễn đàn cho rằng, “việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thay công việc của Quốc hội”…
Ai cũng biết rằng, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là một việc làm bình thường, đúng pháp luật, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước. Thực tiễn cho thấy, nước ta đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và cả 4 lần đều thu được kết quả tốt đẹp góp phần đưa đất nước tiến lên theo đúng mục tiêu đặt ra là nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nghị quyết của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Tổ chức lấy ý kiến nhân dân với các hình thức thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân cả ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực và tiết kiệm. Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác; phải được nghiên cứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện, nâng cao chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến; phản ánh trung thực, kịp thời ý kiến tham gia của nhân dân.
Việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền và biên giới quốc gia của các nước, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ các nước, đồng thời góp phần xây dựng và bảo vệ nền hòa bình của khu vực và thế giới.
Nhân dân Việt Nam hiểu và tôn trọng những thành quả mà Đảng, Bác Hồ và toàn thể nhân dân đã giành được từ trong khổ đau lầm than và nô lệ. Chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cố tình quay lưng lại với con đường cách mạng Việt Nam, cố tình xuyên tạc, nói xấu và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và của nhân dân Việt Nam trong tiến trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị để việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Hiến pháp mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, cần có quy định cấm về hành vi xuyên tạc, bôi xấu trong việc lấy ý kiến. Mọi ý kiến của nhân dân phải được tiếp thu tối đa, chỗ nào tiếp thu cần nói rõ, chỗ nào không tiếp thu cũng cần giải thích rõ để nhân dân hiểu.
ĐỖ PHÚ THỌ
(Báo Điện Tử Quân Đội Nhân Dân)

Phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


QĐND – Ngày 12-12, trong không khí cả nước đang ra sức thi đua lập nhiều thành tích kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và dân tộc, Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X được khai mạc trọng thể tại thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của tuổi trẻ Việt Nam. Đại hội đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ IX; thảo luận, đề ra mục tiêu, phương hướng công tác đoàn (CTĐ) và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2012-2017; xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức, lối sống, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, thi đua học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhìn lại nhiệm kỳ qua, CTĐ và phong trào thanh thiếu nhi đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, trên đà phát triển chung của cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Công tác giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên được các cấp bộ đoàn triển khai với nhiều hình thức, biện pháp mang lại hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt, Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” và phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc” được thực hiện sáng tạo và đạt hiệu quả; trở thành nội dung xuyên suốt trong công tác giáo dục của các cấp bộ đoàn nhiệm kỳ qua. Với hơn 3000 công trình thanh niên ở cấp tỉnh được hoàn thành mang lại giá trị kinh tế cho đất nước với hơn 5.400 tỷ đồng; hơn 20.000 công trình thanh niên cấp huyện, với tổng trị giá hơn 1.650 tỷ đồng, cùng hơn 3.400.000 công trình thanh niên cấp cơ sở, với tổng trị giá gần 3000 tỷ đồng là những minh chứng cụ thể thể hiện vai trò xung kích của tuổi trẻ tham gia phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Tuổi trẻ cả nước cũng hăng hái, tích cực xung kích, tình nguyện tham gia các hoạt động vì cuộc sống cộng đồng; các phong trào, chương trình hướng về Trường Sa, về biên giới, hải đảo; chăm lo cho gia đình chính sách, tham gia xóa đói, giảm nghèo… thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, CTĐ và phong trào thanh thiếu nhi trong nhiệm kỳ qua vẫn bộc lộ những hạn chế, yếu kém nhất định. Đáng chú ý là một số nội dung công tác giáo dục, nhất là giáo dục truyền thống của tổ chức đoàn chưa cụ thể, thiếu phù hợp với đối tượng thanh thiếu niên; phương pháp giáo dục tuy có sự đổi mới, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Việc nắm bắt tư tưởng, tâm trạng, thái độ của thanh thiếu niên nhiều nơi, nhiều lúc thiếu tính kịp thời. Hoạt động xây dựng tổ chức đoàn và phong trào thanh niên vẫn còn hình thức, thiếu hiệu quả… 
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém nêu trên, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định bắt nguồn từ những hạn chế, yếu kém của một bộ phận đội ngũ cán bộ đoàn. Một số bất cập trong CTĐ, nhất là về mô hình tổ chức hoạt động của các cấp bộ đoàn tuy đã được chỉ ra nhưng chậm nghiên cứu, giải quyết.
Nhìn thẳng vào thực tế để thấy rõ những đòi hỏi khách quan đối với tổ chức đoàn các cấp trong nhiệm kỳ tới. Trong bối cảnh hiện nay, các cấp bộ đoàn cần tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục, nhằm góp phần xây dựng lớp thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có bản lĩnh chính trị, ý thức chấp hành pháp luật; có đạo đức cách mạng và lối sống đẹp; có ước mơ, hoài bão, khát vọng đưa đất nước vươn lên; có tri thức, sức khỏe, kỹ năng xã hội, năng lực chuyên môn, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại; phát huy vai trò xung kích của thanh niên thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Để hoàn thành sứ mệnh và nhiệm vụ cao cả, nhưng cũng hết sức nặng nề đó, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của đội ngũ cán bộ đoàn nói riêng, các cấp bộ đoàn nói chung trong triển khai thực hiện chương trình, nội dung được thảo luận và quyết nghị tại đại hội lần này. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ đoàn và các cấp bộ đoàn phải thấy rõ trách nhiệm chính trị, cũng như vai trò của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục động cơ, xác định rõ trách nhiệm là điều kiện tiên quyết để tổ chức đoàn phát huy tốt vai trò xung kích của tuổi trẻ đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đó, phải tổ chức thật tốt các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, triển khai từng bước vững chắc ở từng cấp, từng địa phương; chăm lo, hỗ trợ, đồng hành với thanh niên. Tập trung củng cố xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh hướng vào 3 tiêu chí: Chất lượng cơ sở, chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn và mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên.
Thanh niên quân đội là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam. Gắn liền với lịch sử 68 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, thanh niên quân đội luôn kế tục và phát huy bản chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, hăng hái học tập, huấn luyện, công tác, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đoàn kết phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; cùng thanh niên cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trở thành nòng cốt và có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

QĐND
Phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

QĐND – Ngày 12-12, trong không khí cả nước đang ra sức thi đua lập nhiều thành tích kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và dân tộc, Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X được khai mạc trọng thể tại thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của tuổi trẻ Việt Nam. Đại hội đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ IX; thảo luận, đề ra mục tiêu, phương hướng công tác đoàn (CTĐ) và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2012-2017; xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức, lối sống, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, thi đua học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhìn lại nhiệm kỳ qua, CTĐ và phong trào thanh thiếu nhi đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, trên đà phát triển chung của cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Công tác giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên được các cấp bộ đoàn triển khai với nhiều hình thức, biện pháp mang lại hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt, Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” và phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc” được thực hiện sáng tạo và đạt hiệu quả; trở thành nội dung xuyên suốt trong công tác giáo dục của các cấp bộ đoàn nhiệm kỳ qua. Với hơn 3000 công trình thanh niên ở cấp tỉnh được hoàn thành mang lại giá trị kinh tế cho đất nước với hơn 5.400 tỷ đồng; hơn 20.000 công trình thanh niên cấp huyện, với tổng trị giá hơn 1.650 tỷ đồng, cùng hơn 3.400.000 công trình thanh niên cấp cơ sở, với tổng trị giá gần 3000 tỷ đồng là những minh chứng cụ thể thể hiện vai trò xung kích của tuổi trẻ tham gia phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Tuổi trẻ cả nước cũng hăng hái, tích cực xung kích, tình nguyện tham gia các hoạt động vì cuộc sống cộng đồng; các phong trào, chương trình hướng về Trường Sa, về biên giới, hải đảo; chăm lo cho gia đình chính sách, tham gia xóa đói, giảm nghèo… thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, CTĐ và phong trào thanh thiếu nhi trong nhiệm kỳ qua vẫn bộc lộ những hạn chế, yếu kém nhất định. Đáng chú ý là một số nội dung công tác giáo dục, nhất là giáo dục truyền thống của tổ chức đoàn chưa cụ thể, thiếu phù hợp với đối tượng thanh thiếu niên; phương pháp giáo dục tuy có sự đổi mới, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Việc nắm bắt tư tưởng, tâm trạng, thái độ của thanh thiếu niên nhiều nơi, nhiều lúc thiếu tính kịp thời. Hoạt động xây dựng tổ chức đoàn và phong trào thanh niên vẫn còn hình thức, thiếu hiệu quả… 
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém nêu trên, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định bắt nguồn từ những hạn chế, yếu kém của một bộ phận đội ngũ cán bộ đoàn. Một số bất cập trong CTĐ, nhất là về mô hình tổ chức hoạt động của các cấp bộ đoàn tuy đã được chỉ ra nhưng chậm nghiên cứu, giải quyết.
Nhìn thẳng vào thực tế để thấy rõ những đòi hỏi khách quan đối với tổ chức đoàn các cấp trong nhiệm kỳ tới. Trong bối cảnh hiện nay, các cấp bộ đoàn cần tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục, nhằm góp phần xây dựng lớp thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có bản lĩnh chính trị, ý thức chấp hành pháp luật; có đạo đức cách mạng và lối sống đẹp; có ước mơ, hoài bão, khát vọng đưa đất nước vươn lên; có tri thức, sức khỏe, kỹ năng xã hội, năng lực chuyên môn, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại; phát huy vai trò xung kích của thanh niên thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Để hoàn thành sứ mệnh và nhiệm vụ cao cả, nhưng cũng hết sức nặng nề đó, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của đội ngũ cán bộ đoàn nói riêng, các cấp bộ đoàn nói chung trong triển khai thực hiện chương trình, nội dung được thảo luận và quyết nghị tại đại hội lần này. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ đoàn và các cấp bộ đoàn phải thấy rõ trách nhiệm chính trị, cũng như vai trò của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục động cơ, xác định rõ trách nhiệm là điều kiện tiên quyết để tổ chức đoàn phát huy tốt vai trò xung kích của tuổi trẻ đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đó, phải tổ chức thật tốt các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, triển khai từng bước vững chắc ở từng cấp, từng địa phương; chăm lo, hỗ trợ, đồng hành với thanh niên. Tập trung củng cố xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh hướng vào 3 tiêu chí: Chất lượng cơ sở, chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn và mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên.
Thanh niên quân đội là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam. Gắn liền với lịch sử 68 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, thanh niên quân đội luôn kế tục và phát huy bản chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, hăng hái học tập, huấn luyện, công tác, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đoàn kết phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; cùng thanh niên cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trở thành nòng cốt và có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

QĐND
18/12/12
CPJ đi ngược lại tiêu chí "khách quan, tôn trọng sự thật"

CPJ đi ngược lại tiêu chí "khách quan, tôn trọng sự thật"


 Như đã thành lệ, vài năm gần đây, hễ đến ngày Nhân quyền quốc tế (10-12-2012) là website của các cơ quan truyền thông như BBC, RFA, RFI, VOA... lại mở chiến dịch vu cáo Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Và như là hành động "theo đóm ăn tàn", trong chiến dịch này còn thấy sự hùa theo của một số tổ chức quốc tế vốn thiếu thiện chí với Việt Nam. Ðặc biệt, qua cái gọi là "phúc trình" về tình hình tự do báo chí và tình trạng đàn áp ký giả diễn ra trên thế giới, Ủy ban bảo vệ nhà báo đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc tình hình báo chí, nhất là hoạt động internet, blog ở Việt Nam. Từ nước Mỹ, tác giả Amari TX đã gửi tới Báo Nhân Dân bài viết về sự kiện này, xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Ngày 14-12-2012 "mõ làng" VOA việt ngữ đã có cuộc phỏng vấn ông Shawn Crispin - đại diện cấp cao của CPJ (Ủy ban bảo vệ nhà báo) ở Ðông - Nam Á. Ông này cũng chính là tác giả "phúc trình" về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Theo cái gọi là "phúc trình" đó, CPJ xếp Việt Nam vào nhóm các nước mà họ gọi là "tấn công, đàn áp báo giới", kèm theo là một số kết luận có tính vu khống, như: "đàn áp nhiều ký giả, những người viết nhật ký trên mạng (tức blogger)", "vô cớ bắt giam một số phóng viên", "ngăn chặn mọi trang web và các tài liệu trên mạng"!? Theo ý kiến của tôi, đây là những đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan và có tính định kiến về tình hình báo chí, cũng như hoạt động của các nhà báo Việt Nam.
Tự do báo chí ở Việt Nam - Chưa bao giờ bị bó hẹp

  Như chúng ta đã biết, cùng với nghĩa vụ khi tham gia ký kết các công ước quốc tế, mỗi quốc gia đều có các quy định về hành nghề báo chí, hoặc dưới dạng đạo luật của quốc gia, hoặc các quy chế hoạt động do tổ chức nghề nghiệp đưa ra. Những quy định này luôn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội và chính trị của quốc gia đó. Trên thế giới hiện nay, hầu hết các quốc gia thể chế hóa quyền tự do thông tin và đưa thông tin qua những văn bản mang tính chất pháp lý cao nhất (hiến pháp) và văn bản luật thành văn, trong đó có Việt Nam. Một số quốc gia đưa các chế định về bảo vệ nhà báo, nghề báo vào trong Bộ luật Hình sự. Luật Báo chí của Việt Nam cũng khẳng định quyền của nhà báo khi thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp lợi ích đất nước và nhân dân, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Vì thế, việc Nhà nước Việt Nam quản lý báo chí bằng luật, hoàn toàn không phải là sự cản trở quyền tự do báo chí của người dân, cũng như hoạt động báo chí của các nhà báo.
  Việc CPJ và một số phương tiện truyền thông kiểu "mõ làng" phương Tây cố tình thêu dệt bức tranh "u ám" về báo chí ở Việt Nam, một lần nữa thể hiện sự thiếu thiện chí và định kiến của họ về sự phát triển của báo chí Việt Nam. Chẳng lẽ các vị ở CPJ lại không biết hay cố tình "quên" những con số thống kê ở Việt Nam như: hơn 550 cơ quan báo chí, hơn 19 nghìn hội viên Hội Nhà báo, hơn 700 ấn phẩm báo chí với các loại hình từ báo viết, báo nói, báo hình đến internet, và hiện nay, mỗi người dân được thụ hưởng tới 7,5 tờ báo. Ðặc biệt, cần nhấn mạnh rằng, sự phát triển nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu được thông tin không gặp bất cứ một sự trở ngại nào, đó chính là biểu hiện sinh động của tự do báo chí ở Việt Nam, thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người dân. Nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động vì sự phát triển phồn vinh của đất nước, Luật Báo chí Việt Nam đã khẳng định, báo chí không chỉ phản ánh trung thực tình hình phát triển của đất nước, thế giới, mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân. Trong khi đó, trong môi trường bùng nổ thông tin như hiện nay, không phải mọi nguồn thông tin về những sự kiện quan trọng của xã hội đều là chính xác, nhất là lối "chụp giật" chưa kiểm chứng đã vội vàng đưa tin. Mới đây, Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử các bị cáo là blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần với tội danh "tuyên tryền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" theo khoản 2 Ðiều 88 của Bộ luật Hình sự chẳng hạn. Theo cáo trạng, trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010, những người chủ trương cái gọi là "câu lạc bộ nhà báo tự do" này đăng tải 327 bài lấy từ các blog, website của các tổ chức "chống cộng cực đoan" ở hải ngoại, có 26 bài chứa nội dung kích động lật đổ chế độ. Hiển nhiên, việc viết bài trên blog, mạng xã hội có nội dung xuyên tạc vu cáo, chống chính quyền là vi phạm luật pháp Việt Nam, và họ bị pháp luật xét xử. Theo dõi trên báo chí, được biết, qua tài liệu của cơ quan điều tra, các nhân vật mà CPJ đề cập đã có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia; họ hành động có tổ chức, có phân công nhiệm vụ cụ thể, thậm chí có sự cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Họ tàng trữ, tán phát tài liệu có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước Việt Nam rồi đưa lên internet nhằm kích động, gây nghi ngờ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước.
  Ngay tại nước Mỹ, nơi được mệnh danh là "thiên đường tự do", thì luật pháp của các tiểu bang quy định rất rõ về vấn đề này và đã không ít người đã bị bắt và xử lý. Ở Việt Nam, số người dùng mạng xã hội đang tăng lên nhanh chóng. Theo thống kê mới nhất, trong số đối tượng 18 tuổi trở lên có tài khoản mạng xã hội thì: 43% dân số có một tài khoản, 25% có hai tài khoản, 13% có bốn tài khoản trở lên. Theo số liệu từ DoubleClick Ad Planner, trong tháng 1-2012, lượng người dùng internet tại Việt Nam là 23 triệu (chiếm26% dân số), lượt xem là 18,4 tỷ. Về mạng xã hội ở Việt Nam, Zing Me (me.zing.vn) có lượng người dùng cao nhất (8,2 triệu), thời gian truy cập nhiều nhất (1 tỷ phút), lượt xem 540 triệu; thứ hai là Facebook với 5,6 triệu người dùng, thứ ba là yume.vn (2,2 triệu người dùng), thứ tư là tamtay.vn (1 triệu người dùng). Theo Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông - Việt Nam), công cụ tìm kiếm và mạng xã hội là hai dịch vụ được hàng chục triệu người dùng internet sử dụng rộng rãi nhất (100% sử dụng tìm kiếm, 80% sử dụng mạng xã hội). Tính đến tháng 3-2012, trong lĩnh vực thông tin điện tử, Việt Nam có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp. Sự tương tác giữa các loại hình thông tin này đang diễn ra vô cùng sôi động. Ðương nhiên, dù ở Việt Nam hay ở quốc gia khác trên thế giới, việc thông tin trên internet đều phải tuân thủ các quy định, nguyên tắc cụ thể, các thông tin đăng tải phải bảo đảm tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thóa mạ cá nhân và tổ chức là phạm pháp và đương nhiên người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
  Chẳng lẽ các vị ở CPJ lại không biết, mặc dù Hoa Kỳ không có một bộ thông tin, các hệ thống truyền thông và truyền hình tư chủ động làm công việc trên căn bản tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, theo mức độ tự kiểm, lương tâm nghề nghiệp. Người làm báo, truyền thông và truyền hình tại Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới khi có nhiều quyền hành và thế lợi thì cũng có nhiều trách nhiệm và bổn phận, nhất là về nghề nghiệp trọng hiến pháp, trọng pháp luật và về luân lý xã hội, tôn trọng công lý, lẽ phải và lý tưởng nhân đạo. Do đó, thế lực của báo chí truyền thông còn phải tương xứng với sứ mạng đăng tải tin tức xác thực, thông tin kiến thức và phổ biến những điều cần biết để người dân tìm hiểu, chọn lựa thái độ liên hệ. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, báo chí phải tuân theo hiến pháp và luật pháp hiện hành quy định tự do tin tức (Freedom of Information Act) để thi hành nghiệp vụ phóng sự, điều tra, phổ biến sự thật. Khi báo chí đưa tin tức thất thiệt với dụng ý khai thác, trục lợi sẽ mất quyền tự do ngôn luận (unprotected speech), sẽ bị chế tài; tòa soạn, phóng viên, và người đăng tin thất thiệt có thể bị liên đới về mặt trách nhiệm dân sự, nếu họ chủ tâm đăng tải hoặc tái đăng tin tức có tính cách mạ lỵ, phỉ báng, sai sự thật. Vì thế nhà báo cần thận trọng kiểm soát bài vở đăng tải, phải kiểm chứng tài liệu và nguồn gốc tin tức sử dụng.
  Ngày nay ai cũng biết, internet chứa đựng vô số thông tin, có thể là thông tin hay, chính xác, có giá trị, nhưng cũng có thể là tin "rác", hoặc chỉ là thông tin thất thiệt, thiếu kiểm chứng. Với Việt Nam, trong số đó có cả loại thông tin của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Nếu không tôn trọng hiến pháp, nếu không bênh vực, hướng tới tinh thần dân chủ và lý tưởng nhân đạo, báo chí sẽ đi ngược công lý và lẽ phải, sẽ lầm lẫn, gây ảnh hưởng xấu với quần chúng. Trên thực tế, bên cạnh một số trang mạng xã hội đã được cấp phép ở Việt Nam, các thế lực thù địch còn lợi dụng internet để xây dựng rất nhiều website, đặt máy chủ ở nước ngoài, đăng tải các thông tin, luận điệu phản động, sai trái, kích động, trái thuần phong mỹ tục,... nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Những thế lực này, với tư cách thành viên của các trang mạng xã hội, đã đưa lên mạng những bình luận thiếu khách quan hoặc thông tin sai sự thật, thậm chí bịa đặt, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, bôi nhọ hình ảnh, nói xấu chế độ.
  Ở Hoa Kỳ, dù báo chí được mệnh danh là "đệ tứ quyền" (đứng sau lập pháp, hành pháp, tư pháp), song dù hoạt động dưới bất cứ hình thức nào, bất cứ ở đâu, do bất cứ lực lượng nào đảm trách thi hành thì "đệ tứ quyền" vẫn cần tôn trọng những tiêu chuẩn căn bản về tự do ngôn luận, phẩm giá nhân bản, công lý và nhân ái. Bởi vậy để hạn chế những thông tin xấu và tiêu cực, không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng cần có biện pháp để ngăn chặn. Ðiều này thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo vệ chế độ, bảo vệ các giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc. Phóng viên đưa tin sai sự thật, có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Luật Báo chí, thì phải chịu hình phạt của luật pháp. Ðó là việc làm thể hiện tính nghiêm minh của Nhà nước pháp quyền và sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam, điều đó hoàn toàn không phải là cản trở hoạt động báo chí của các nhà báo. Việc CPJ phê phán các biện pháp chính đáng và cần thiết đó là hoàn toàn sai trái, nếu không nói là tiếp tay cho cái xấu. Vì thế, cần khẳng định, với lời lẽ vu cáo và xuyên tạc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, CPJ đã đi ngược lại tiêu chí "khách quan, tôn trọng sự thật" vì sự phát triển của báo chí của Việt Nam cũng như của các nước trên thế giới.

Tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam


QĐND - Mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Nhà nước CHXHCN Việt Nam và toàn xã hội luôn được các thế lực thù địch đặt lên hàng đầu trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng, hướng lái Việt Nam theo con đường của chủ nghĩa tư bản. Đặc biệt hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết lợi dụng đợt sinh hoạt dân chủ lấy ý kiến đóng góp của nhân dân sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 được tiến hành vào quý I năm 2013, để tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ Đảng ta. Mưu đồ của họ là tạo sự nghi ngờ, mất lòng tin, dẫn đến đối lập với Đảng, đòi bỏ Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, quy định về vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước CHXHCN Việt Nam và toàn xã hội.
Có thể dẫn ra nhiều luận điệu mà các thế lực thù địch đang hằng ngày, hằng giờ tung ra trên các diễn đàn, nhất là trên mạng internet, để tuyên truyền chống phá, nhằm mục tiêu xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước ta. Chẳng hạn họ cho rằng, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 là “phá hỏng nền tảng của chính bản thân hiến pháp”. Để bảo vệ luận điệu này, họ đã viện dẫn Điều 2 và Điều 83 để xuyên tạc một cách ngụy biện và cho rằng, Điều 4 của Hiến pháp nước ta “khẳng định ĐCSVN lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, tức là theo chế độ đảng trị = đảng chủ...”. Hơn thế, họ còn cho rằng, “thể chế Việt Nam hiện nay là không phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền...”; và “Điều 4 biểu hiện sự toàn trị, chứ không phải lãnh đạo”; “Thực chất là ĐCS muốn bám lấy quyền lực để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi kinh tế của cá nhân hay những nhóm tư bản đỏ”... Họ còn lớn tiếng cho rằng, “Hiến pháp Việt Nam là không chính danh, chỉ là điều lệ ĐCSVN độc tài, toàn trị, do một số đảng viên nắm quyền soạn thảo, sửa đổi, áp đặt lên 3 triệu đảng viên khác và toàn dân Việt Nam!”… Từ đó, họ trắng trợn phát ngôn rằng, “Việt Nam cần một bản hiến pháp mới, trong đó quyền làm chủ đất nước, quyền quyết định tương lai chính trị cho đất nước phải do nhân dân tự quyết”...
Vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ tiếp tục dược khẳng định
Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, việc quy định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN tại Điều 4, Hiến pháp 1992 cần tiếp tục được khẳng định trong nội dung sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này, dựa trên những căn cứ lịch sử, chính trị và pháp lý không thể phủ nhận.
Trước hết, việc này xuất phát từ tính chính đáng cầm quyền của Đảng. Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền. Tính chính đáng cầm quyền của Đảng là sự lựa chọn lịch sử, được nhân dân thừa nhận. Quyền lực chính trị đó của Đảng  bắt nguồn từ quyền lực nhân dân, là sự ủy quyền, tín nhiệm của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy, trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng, trưởng thành, với bản lĩnh của một đảng chính trị dày dạn, có lãnh tụ sáng suốt, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, ĐCSVN đã vượt qua muốn vàn khó khăn, thử thách, động viên và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là điều không thể phủ nhận. ĐCSVN là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng Tháng Tám thắng lợi, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tiếp đó, ĐCSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH. Hiện nay, ĐCSVN vẫn là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Vì vậy, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được quy định tại Điều 4, Hiến pháp năm 1992 là hoàn toàn chính đáng, cần tiếp tục được khẳng định trong nội dung sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này.
Hai là, từ bản chất giai cấp và lập trường tính đảng của hiến pháp. Lý luận và thực tiễn đều không thể phủ nhận bản chất hiến pháp là sự thể hiện tập trung ý chí của giai cấp thống trị, bản chất giai cấp của Nhà nước.
Đối với hiến pháp của nhiều nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) hầu như không có quy định nào nói về đảng cầm quyền. Đây là hành vi của giai cấp tư sản cố tình che giấu tính đảng, tính giai cấp của hiến pháp để dễ dàng hơn trong việc nhân danh quyền lực chung (Nhà nước) để duy trì địa vị thống trị của giai cấp tư sản đối với toàn xã hội. Việc hiến pháp của Nhà nước tư sản không có quy định nào về đảng cầm quyền, không có nghĩa là phủ nhận vai trò của đảng cầm quyền đối với Nhà nước và toàn xã hội. Bởi nội hàm chủ yếu của sự cầm quyền (hay lãnh đạo) được hiểu là phương thức đạt được các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... thông qua việc biến cương lĩnh, đường lối, chính sách của đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đối với các quốc gia theo chế độ TBCN thực hiện chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng thì các đảng chính trị tư sản đều có quan điểm giống nhau trên các vấn đề căn bản, nhất là quan điểm về thiết kế hệ thống chính trị và lập hiến.
Khác với quan điểm tư sản, sự khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được quy định trong hiến pháp nước ta chính là công khai tính đảng, khẳng định hiến pháp nước ta là sự thể hiện ý chí, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, mang bản chất của giai cấp công nhân. Ý chí, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và cả dân tộc, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN thành quy định trong hiến pháp chính là thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.   
Đây là điểm khác nhau căn bản giữa hiến pháp nước ta với hiến pháp của các nước TBCN. Các thế lực thù địch đã cố tình lờ đi bản chất, chỉ lấy hiện tượng và vin vào đó để công kích, xuyên tạc, bôi nhọ, hòng xóa bỏ Điều 4 trong hiến pháp nước ta. Và như vậy, vấn đề vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền được ghi trong hiến pháp, không chỉ đơn giản là “văn bản hóa” mà còn thể hiện thái độ công khai tuyên bố tính đảng, tính giai cấp trong hiến pháp của nước ta.
Ba là, từ truyền thống lập hiến và công ước quốc tế.  Sự ra đời hiến pháp là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử, của quá trình đấu tranh giai cấp và quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, gắn liền với sự ra đời, tồn tại của thể chế chính trị. Hệ thống chính trị và hiến pháp của các nước tư bản phương Tây, ngay từ đầu được xây dựng theo nguyên tắc pháp quyền tư sản, mà nguồn gốc là từ lý thuyết tam quyền phân lập + sở hữu tư bản tư nhân. Đó là nguyên tắc bất di, bất dịch và đã trở thành truyền thống trong thiết kế hệ thống chính trị và lập hiến của họ.
Dựa vào điểm này, các thế lực thù địch cho rằng, hiến pháp của các nước tư bản phương Tây là “chuẩn mực quốc tế”, từ đó cố tình cho rằng, Điều 4 trong hiến pháp nước ta là “trái với “chuẩn mực hiến pháp”, cần phải hủy bỏ”. Trên phương diện pháp lý, chúng ta hoàn toàn có căn cứ để bác bỏ luận điệu này, bởi tại Điều 1, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966), ghi rõ: “Tất cả các quốc gia có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”. Quy định này có nghĩa là việc lựa chọn thể chế chính trị, việc có quy định hay không trong hiến pháp của quốc gia về vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, đó là quyền bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia, mà không có và không thể có sự can thiệp từ bên ngoài. Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được thể chế hóa tại Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 và cần tiếp tục được khẳng định trong sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này, đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Trong đợt sinh hoạt chính trị lớn, quan trọng trong quý I năm 2013, tổ chức lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng ta cần thống nhất cao, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và toàn xã hội. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 cần được tiếp tục hiến định trong sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này. Đó là lương tâm, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị đối với tương lai phát triển của dân tộc và cách mạng Việt Nam theo mục tiêu, con đường XHCN mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn.

PGS, TS HÀ NGUYÊN CÁT - Học viện Quốc phòng
Theo qdnd.vn
Copyright © 2012 The Best Template Blogger All Right Reserved