BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Rss

19/12/12
Từ 19.12, VNG ngừng vĩnh viễn game Chinh Đồ vì có "đường lưỡi bò"

Từ 19.12, VNG ngừng vĩnh viễn game Chinh Đồ vì có "đường lưỡi bò"

Dân Việt - "Là một doanh nghiệp do người Việt Nam thành lập, VNG sẽ mạnh tay với các đối tác vi phạm nội dung liên quan đến văn hóa, chính trị và lãnh thổ Việt Nam” – Trưởng ban Truyền thông VNG cho biết.

Trò chơi Chinh Đồ phát hành phiên bản đầu tiên vào năm 2008 do nhà sản xuất Trung Quốc cung cấp. Từ đó tới nay, trò chơi này luôn được nâng cấp, cập nhật thường xuyên. Tuy nhiên, lần cập nhật mới nhất vào ngày 14.12 vừa qua, nhà cung cấp Trung Quốc tự động đưa vào bản đồ thể hiện vùng biển Đông gồm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nhưng lại nằm trong hình “lưỡi bò” của Trung Quốc.
Do bản đồ này nằm sâu trong phần hướng dẫn nên VNG không phát hiện ra. Tuy nhiên, khi được người chơi phản ánh, VNG ngay lập tức cho ngừng trò chơi này và chấm dứt hợp tác với nhà sản xuất.
VNG ngừng vĩnh viễn game Chinh Đồ vì có "đường lưỡi bò"

VNG đã cầu thị
Ngày 19.12, trao đổi với , bà Đoàn Đỗ Ngọc Thi, Trưởng ban Truyền thông Công ty cổ phần VNG (gọi tắt VNG), cho biết kể từ hôm nay (19.12) VNG chính thức ngừng phát hành trò chơi game Chinh Đồ tại Việt Nam, đồng thời, chấm dứt hợp tác với nhà sản xuất Trung Quốc và bồi thường thiệt hại cho người chơi.
“Dù việc đóng cửa trò chơi Chinh Đồ sẽ gây thiệt hại rất lớn cho VNG, nhưng là một doanh nghiệp do người Việt Nam thành lập, VNG sẽ mạnh tay với các đối tác vi phạm nội dung liên quan đến văn hóa, chính trị và lãnh thổ Việt Nam” – bà Thi nhấn mạnh.
Lý do mà VNG đưa ra là đơn vị sản xuất game Chinh Đồ đã đưa mẫu thiết kế là bản đồ mới của trò chơi xuất hiện những nội dung có liên quan đến vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam vào phiên bản cập nhật ngày 14.12 vừa qua. Đây là nội dung cập nhật không đúng với những cam kết cũng như yêu cầu của VNG.
Do đó, VNG kiên quyết không thỏa hiệp và không chấp nhận bất kỳ động thái nào làm ảnh hưởng đến văn hóa, pháp luật, con người và đặc biệt là tinh thần dân tộc Việt Nam.
Bà Thi cho biết thêm, trước khi quyết định đưa một trò chơi về Việt Nam, VNG có nhiều bộ phận kiểm duyệt cẩn thận các nội dung, hình ảnh, thiết kế trong game để phù hợp thị hiếu, văn hóa, đạo đức của người Việt. Trong quá trình vận hành, đội ngũ nhân viên vẫn làm việc thường xuyên để kiểm soát các vấn đề phát sinh như lỗi, sai thiết kế ban đầu.
“Tuy nhiên, VNG vẫn có sai sót khi không kịp thời nhận ra sự thay đổi này. Khi được khách hàng thông báo, ngay lập tức VNG đã nhanh chóng gỡ bỏ những thiết kế ấy. Để thể hiện rõ tinh thần cầu thị và quyết tâm bảo vệ chủ quyền, dù trong một trò chơi trực tuyến, VNG đã quyết định dừng vĩnh viễn trò chơi Chinh Đồ hai phiên bản 1.0 và 2.0” – bà Thi nói.

VNG xin lỗi khách hàng
Cạnh đó, đại diện VNG cũng gửi lời xin lỗi đến người chơi, quý khách hàng và cộng đồng vì những sai sót mà VNG gặp phải trong quá trình vận hành trò chơi Chinh Đồ.
“VNG rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu, cũng như tiếp tục nhận được sự ủng hộ của người chơi và cộng đồng dành cho các sản phẩm của VNG” – bà Thi chân thành.
Được thành lập vào tháng 9.2004, khởi điểm từ công ty Vinagame chuyên cung cấp dịch vụ Game Online. Tháng 8.2011, Công ty Vinagame đã chính thức đổi tên thành Công ty Cổ phần VNG.
VNG đã trở thành một công ty tập trung phát triển công nghệ nội dung số trên nền tảng internet hàng đầu Việt Nam và hướng đến thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, VNG còn là doanh nghiệp phát triển và vận hành cổng thông tin giải trí Zing đứng đầu Việt Nam về lượng truy cập.
Bà Thi cho biết, bằng những nghiên cứu không mệt mỏi của nhiều đội ngũ nhân sự trẻ, năng động và đầy nhiệt huyết, VNG đang từng bước khẳng định vị trí dẫn đầu trong ngành nội dung số và CNTT tại Việt Nam với định hướng nhất quán nhằm “Phát triển Internet để thay đổi cuộc sống người Việt Nam”.


Giấy phép lái xe mới nhiều “sạn”

Giấy phép lái xe mới nhiều “sạn”



Mẫu giấy phép lái xe mới dự kiến được Bộ GTVT triển khai cấp trên phạm vi cả nước từ đầu năm 2013 có nhiều sai sót trong việc in song ngữ Việt – Anh.
Ông Lê Văn Thịnh, Trưởng Phòng Giám định 1 – Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng), vừa có văn bản gửi Bộ Tư pháp đề nghị xem xét lại các quy định liên quan đến đề án cấp giấy phép lái xe (GPLX) mới do Bộ GTVT thực hiện. Theo ông Thịnh, GPLX mới có quá nhiều “sạn” trong việc chuyển ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Anh, không giống với nhiều nước đang làm.
Ủy quyền sai
Theo ông Nguyễn Thắng Quân, Vụ trưởng Vụ Quản lý phương tiện người lái – Tổng cục Đường bộ (Bộ GTVT), đề án cấp GPLX mới đã được xây dựng từ rất nhiều năm trước. Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ 1 triệu USD để trang bị hệ thống máy chủ và máy in đặt tại tổng cục; Bộ GTVT trang bị thêm phần mềm quản lý thông tin khoảng 7 tỉ đồng.
Mẫu giấy phép lái xe mới có nhiều "sạn"

Ngoài ra, tùy vào điều kiện tình hình địa phương, các sở GTVT sẽ trang bị hệ thống máy móc in ấn GPLX mới. CSGT khi tuần tra trên đường nếu phát hiện nghi ngờ về GPLX giả có thể nhắn tin, gọi điện về tổng đài trung tâm dữ liệu GPLX đặt tại Tổng cục Đường bộ là có thể kiểm tra được.
Mặc dù là người “ngoại đạo” nhưng bằng hiểu biết và kinh nghiệm của mình, ông Thịnh đã chỉ ra hàng loạt bất hợp lý, sai sót trong GPLX mới. “Ngay từ khi Bộ GTVT ban hành mẫu và thực hiện thí điểm việc cấp, đổi GPLX mới tại Đà Nẵng và Bắc Ninh, tôi đã có ý kiến nhưng không được tiếp thu”- ông Thịnh nói. Chẳng hạn, trên góc trái GPLX ghi “Bộ GTVT” nhưng người cấp lại là giám đốc hoặc phó giám đốc Sở GTVT.
Trả lời ông Thịnh, Bộ GTVT cho rằng mình là cơ quan ban hành mẫu GPLX để sử dụng thống nhất trên cả nước. Hơn nữa, cách ghi này đã có và duy trì từ thời Bộ Nội vụ. “Theo tôi, cách giải thích này là chưa hiểu đúng về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ tại giai đoạn ban hành mẫu GPLX”- ông Thịnh nhận định.
Ông Thịnh dẫn chứng: Tháng 6-1975, Quốc hội quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ, lấy tên là Bộ Nội vụ. Là một bộ mới nhưng Bộ Nội vụ chỉ làm nhiệm vụ cảnh sát, an ninh quốc gia và PCCC. Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ lúc đó có Cục CSGT – Trật tự. Bộ Nội vụ lúc này có thẩm quyền cấp GPLX nên trên góc trái mới in “Bộ Nội vụ” và người cấp đều là cục trưởng hoặc phó cục trưởng, cùng lắm là ủy quyền cho trưởng phòng CSGT – trật tự cấp dưới.
Nửa Tây, nửa ta
“Tôi đã nghiên cứu rất kỹ, thấy rằng trong GPLX mới có nhiều “sạn” về việc dịch tiếng Anh. Quốc hiệu nước ta ở trong GPLX mới không được dịch sang tiếng Anh. Điều này khiến GPLX nửa “Tây” nửa “ta”, chỗ dịch, chỗ không khiến người nước ngoài không hiểu được đầy đủ về tên nước Việt Nam” – ông Thịnh nói. Ông cho rằng tên nước phải dịch ra tiếng Anh và có thể thay thế dòng chữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” bằng The Socialist Republic Of Vietnam như trong bằng tốt nghiệp đại học của Bộ GD-ĐT thực hiện.
Hơn nữa, theo ông Thịnh, GPLX mới dịch “Giấy phép lái xe” thành Driver’s License là không chuẩn xác. “Tôi đã phản hồi cho họ biết rằng GPLX ở Anh, Mỹ – những nước có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh – đều thường dùng chữ Driving License – như mẫu Bộ GTVT từng có và phù hợp với phụ lục 30 tại Thông tư 07/2009 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp GPLX của Bộ GTVT” – ông Thịnh dẫn chứng.
Trong mục Nơi cư trú, lẽ ra phải được chuyển ngữ sang tiếng Anh là Place Of Residence thì Bộ GTVT lại chọn ghi là Address có nghĩa là Địa chỉ. Từ Có giá trị đến thì tiếng Anh lẽ ra phải là Valid To Date hoặc Date Of Expiry chứ không thể dùng là Expires tương đương với từ Hết hạn. Ngoài ra, mục Chữ ký và dấu trên GPLX được dịch là Signed, Seaied cũng không phù hợp, bởi sẽ được hiểu nghĩa là Đã được ký và đóng dấu. Ông Thịnh cho rằng từ chính xác phải là  Signature, Seal…
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động chiều 18-12, ông Nguyễn Thắng Quân cho rằng ông Lê Văn Thịnh “bắt bẻ” câu chữ. “Chúng tôi áp dụng dịch theo tiếng Anh – Mỹ. Còn việc Quốc hiệu nước ta không được dịch ra tiếng Anh là bởi không đủ chỗ” – ông Quân giải thích.
Thế Kha (NLD)
Giấy phép lái xe mới nhiều “sạn”

Giấy phép lái xe mới nhiều “sạn”


Mẫu giấy phép lái xe mới dự kiến được Bộ GTVT triển khai cấp trên phạm vi cả nước từ đầu năm 2013 có nhiều sai sót trong việc in song ngữ Việt – Anh.
Ông Lê Văn Thịnh, Trưởng Phòng Giám định 1 – Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng), vừa có văn bản gửi Bộ Tư pháp đề nghị xem xét lại các quy định liên quan đến đề án cấp giấy phép lái xe (GPLX) mới do Bộ GTVT thực hiện. Theo ông Thịnh, GPLX mới có quá nhiều “sạn” trong việc chuyển ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Anh, không giống với nhiều nước đang làm.
Ủy quyền sai
Theo ông Nguyễn Thắng Quân, Vụ trưởng Vụ Quản lý phương tiện người lái – Tổng cục Đường bộ (Bộ GTVT), đề án cấp GPLX mới đã được xây dựng từ rất nhiều năm trước. Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ 1 triệu USD để trang bị hệ thống máy chủ và máy in đặt tại tổng cục; Bộ GTVT trang bị thêm phần mềm quản lý thông tin khoảng 7 tỉ đồng.
Mẫu giấy phép lái xe mới có nhiều "sạn"

Ngoài ra, tùy vào điều kiện tình hình địa phương, các sở GTVT sẽ trang bị hệ thống máy móc in ấn GPLX mới. CSGT khi tuần tra trên đường nếu phát hiện nghi ngờ về GPLX giả có thể nhắn tin, gọi điện về tổng đài trung tâm dữ liệu GPLX đặt tại Tổng cục Đường bộ là có thể kiểm tra được.
Mặc dù là người “ngoại đạo” nhưng bằng hiểu biết và kinh nghiệm của mình, ông Thịnh đã chỉ ra hàng loạt bất hợp lý, sai sót trong GPLX mới. “Ngay từ khi Bộ GTVT ban hành mẫu và thực hiện thí điểm việc cấp, đổi GPLX mới tại Đà Nẵng và Bắc Ninh, tôi đã có ý kiến nhưng không được tiếp thu”- ông Thịnh nói. Chẳng hạn, trên góc trái GPLX ghi “Bộ GTVT” nhưng người cấp lại là giám đốc hoặc phó giám đốc Sở GTVT.
Trả lời ông Thịnh, Bộ GTVT cho rằng mình là cơ quan ban hành mẫu GPLX để sử dụng thống nhất trên cả nước. Hơn nữa, cách ghi này đã có và duy trì từ thời Bộ Nội vụ. “Theo tôi, cách giải thích này là chưa hiểu đúng về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ tại giai đoạn ban hành mẫu GPLX”- ông Thịnh nhận định.
Ông Thịnh dẫn chứng: Tháng 6-1975, Quốc hội quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ, lấy tên là Bộ Nội vụ. Là một bộ mới nhưng Bộ Nội vụ chỉ làm nhiệm vụ cảnh sát, an ninh quốc gia và PCCC. Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ lúc đó có Cục CSGT – Trật tự. Bộ Nội vụ lúc này có thẩm quyền cấp GPLX nên trên góc trái mới in “Bộ Nội vụ” và người cấp đều là cục trưởng hoặc phó cục trưởng, cùng lắm là ủy quyền cho trưởng phòng CSGT – trật tự cấp dưới.
Nửa Tây, nửa ta
“Tôi đã nghiên cứu rất kỹ, thấy rằng trong GPLX mới có nhiều “sạn” về việc dịch tiếng Anh. Quốc hiệu nước ta ở trong GPLX mới không được dịch sang tiếng Anh. Điều này khiến GPLX nửa “Tây” nửa “ta”, chỗ dịch, chỗ không khiến người nước ngoài không hiểu được đầy đủ về tên nước Việt Nam” – ông Thịnh nói. Ông cho rằng tên nước phải dịch ra tiếng Anh và có thể thay thế dòng chữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” bằng The Socialist Republic Of Vietnam như trong bằng tốt nghiệp đại học của Bộ GD-ĐT thực hiện.
Hơn nữa, theo ông Thịnh, GPLX mới dịch “Giấy phép lái xe” thành Driver’s License là không chuẩn xác. “Tôi đã phản hồi cho họ biết rằng GPLX ở Anh, Mỹ – những nước có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh – đều thường dùng chữ Driving License – như mẫu Bộ GTVT từng có và phù hợp với phụ lục 30 tại Thông tư 07/2009 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp GPLX của Bộ GTVT” – ông Thịnh dẫn chứng.
Trong mục Nơi cư trú, lẽ ra phải được chuyển ngữ sang tiếng Anh là Place Of Residence thì Bộ GTVT lại chọn ghi là Address có nghĩa là Địa chỉ. Từ Có giá trị đến thì tiếng Anh lẽ ra phải là Valid To Date hoặc Date Of Expiry chứ không thể dùng là Expires tương đương với từ Hết hạn. Ngoài ra, mục Chữ ký và dấu trên GPLX được dịch là Signed, Seaied cũng không phù hợp, bởi sẽ được hiểu nghĩa là Đã được ký và đóng dấu. Ông Thịnh cho rằng từ chính xác phải là  Signature, Seal…
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động chiều 18-12, ông Nguyễn Thắng Quân cho rằng ông Lê Văn Thịnh “bắt bẻ” câu chữ. “Chúng tôi áp dụng dịch theo tiếng Anh – Mỹ. Còn việc Quốc hiệu nước ta không được dịch ra tiếng Anh là bởi không đủ chỗ” – ông Quân giải thích.
Thế Kha (NLD)


Bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta

Bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta


QĐND - Là chế độ tôn trọng con người, trước khi trở thành thành viên của Liên hợp quốc (ngày 20 tháng 9 năm 1977), Việt Nam đã tự nguyện gia nhập nhiều công ước về Luật Nhân đạo quốc tế, (về nội dung cũng mang tính nhân quyền) như “Công ước Giơ-ne-vơ về bảo vệ thường dân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957), “Công ước Giơ-ne-vơ về đối xử với tù nhân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957)…
Trước thời kỳ đổi mới, vào năm 1982, Việt Nam đã gia nhập hai Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, đó là “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị" và “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (cùng được phê chuẩn năm 1966) (theo "Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. HN. 2002, tr249, 284).
Nhằm bảo đảm quyền của người dân đồng thời phát triển xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng việc xây dựng các thể chế quốc gia phù hợp với đặc thù lịch sử, văn hóa dân tộc. Trong đó có nguyên tắc các cơ quan tư pháp hoạt động độc lập. Đồng thời, Nhà nước có cơ chế chính sách tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội ngày càng được nâng cao. Văn kiện Đại hội XI, năm 2011, tái khẳng định vai trò giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức trên. Trong nhiều nhiệm kỳ qua, vai trò của Quốc hội ngày càng được nâng cao. Trong các kỳ họp, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ phải trả lời chất vấn công khai, được truyền hình trực tiếp những vấn đề cử tri và các đại biểu quan tâm.
Việt Nam luôn coi trọng việc đảm bảo các quyền con người
Quyền làm chủ trực tiếp của người dân cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Từ một Chỉ thị của Đảng (Chỉ thị Số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở), với nhiều yêu cầu, đặc biệt là: Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hằng ngày của nhân dân tại cơ sở, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh bảo đảm quyền được biết, được bàn, được kiểm tra và quyết định những vấn đề kinh tế, xã hội của người dân ở cơ sở. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý của phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Ngoài Luật Báo chí, Nhà nước đã ban hành các quy định cơ quan Chính phủ có trách nhiệm định kỳ và khi cần cung cấp thông tin cho báo chí. Các cơ quan truyền thông của Việt Nam phát triển nhanh chóng. Cho đến nay, cả nước có hơn 700 cơ quan báo chí; 68 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và tỉnh, thành phố, hơn 80 báo điện tử, hàng nghìn trang tin điện tử và blog… Người dân Việt Nam ngày nay còn được tiếp cận với nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như Roi-tơ, BBC, VOA, AP, AFP, CNN… Tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Trên lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và trong từng chính sách phát triển… tiếp tục hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội… giúp đỡ mọi thành viên xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương…”. Để bảo đảm hành lang pháp lý cho các hoạt động của cơ quan Nhà nước và công dân, nhiều Bộ luật, luật sửa đổi và luật mới được ban hành dựa trên các nguyên tắc: Tôn trọng con người, quyền con người; Dân chủ XHCN; Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm Quốc gia, Việt Nam đã nội luật hóa các công ước quốc tế mà mình đã tham gia. Có thể dẫn ra những luật sau: Luật Bảo vệ sức khỏe người dân năm 1989, Luật Giáo dục năm 1998, Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Bình đẳng giới năm 2011...
Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các Chiến lược và Chương trình phát triển kinh tế-xã hội được triển khai, mức sống của người dân đã có những thay đổi đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người vào năm 1990 khoảng 200USD, đến năm 2010 ước khoảng 1.200USD. Đến nay, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trong việc hưởng thụ thành tựu phát triển, Nhà nước đã có nhiều chương trình kinh tế-xã hội hướng vào nâng cao đời sống của người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Báo cáo của Ủy ban Dân tộc, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006-2010), ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu USD. Từ nguồn vốn trên, Chương trình đã xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trong cả nước, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cụ thể. Với kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ của doanh nghiệp, Quỹ vì người nghèo các địa phương… đến hết năm 2010, các huyện đã cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm tại 62 huyện nghèo với 73.418 căn nhà, đạt 94,58% kế hoạch. Hiện nay, chương trình nhà ở xã hội của Chính phủ đang được triển khai tích cực ở nhiều địa phương nhằm trợ giúp cho công nhân, người thu nhập thấp và sinh viên.
Các quyền tự do cơ bản của con người là mục tiêu lớn, mục tiêu đó như đường chân trời, người ta càng đi đến thì chân trời càng lùi xa. Đơn giản vì nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người ngày càng cao, là không có giới hạn.
Không phủ nhận rằng, hiện nay Việt Nam đang phải đối diện với không ít những vấn đề về kinh tế, xã hội liên quan đến quyền con người, như: Thể chế phân công phối hợp có sự giám sát về quyền lực chưa có hiệu quả như nhiều đại biểu Quốc hội vừa qua đã phát biểu; sự phân hóa giàu nghèo có khuynh hướng gia tăng, thậm chí ngay cả trong Đảng, như đồng chí Tổng bí thư đã nói; hoặc sự hình thành “lợi ích nhóm” trong thời gian qua là những ví dụ…
Tuy nhiên, với việc nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH, với truyền thống cách mạng, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng, Đảng ta sẽ hoàn thành được sứ mệnh lịch sử mà dân tộc đã giao phó - xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. 
PHƯƠNG ANH
(Báo Điện Tử Quân Đội Nhân Dân)
Bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta

Bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta


QĐND - Là chế độ tôn trọng con người, trước khi trở thành thành viên của Liên hợp quốc (ngày 20 tháng 9 năm 1977), Việt Nam đã tự nguyện gia nhập nhiều công ước về Luật Nhân đạo quốc tế, (về nội dung cũng mang tính nhân quyền) như “Công ước Giơ-ne-vơ về bảo vệ thường dân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957), “Công ước Giơ-ne-vơ về đối xử với tù nhân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957)…
Trước thời kỳ đổi mới, vào năm 1982, Việt Nam đã gia nhập hai Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, đó là “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị" và “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (cùng được phê chuẩn năm 1966) (theo "Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. HN. 2002, tr249, 284).
Nhằm bảo đảm quyền của người dân đồng thời phát triển xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng việc xây dựng các thể chế quốc gia phù hợp với đặc thù lịch sử, văn hóa dân tộc. Trong đó có nguyên tắc các cơ quan tư pháp hoạt động độc lập. Đồng thời, Nhà nước có cơ chế chính sách tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội ngày càng được nâng cao. Văn kiện Đại hội XI, năm 2011, tái khẳng định vai trò giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức trên. Trong nhiều nhiệm kỳ qua, vai trò của Quốc hội ngày càng được nâng cao. Trong các kỳ họp, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ phải trả lời chất vấn công khai, được truyền hình trực tiếp những vấn đề cử tri và các đại biểu quan tâm.
Việt Nam luôn coi trọng việc đảm bảo các quyền con người
Quyền làm chủ trực tiếp của người dân cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Từ một Chỉ thị của Đảng (Chỉ thị Số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở), với nhiều yêu cầu, đặc biệt là: Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hằng ngày của nhân dân tại cơ sở, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh bảo đảm quyền được biết, được bàn, được kiểm tra và quyết định những vấn đề kinh tế, xã hội của người dân ở cơ sở. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý của phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Ngoài Luật Báo chí, Nhà nước đã ban hành các quy định cơ quan Chính phủ có trách nhiệm định kỳ và khi cần cung cấp thông tin cho báo chí. Các cơ quan truyền thông của Việt Nam phát triển nhanh chóng. Cho đến nay, cả nước có hơn 700 cơ quan báo chí; 68 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và tỉnh, thành phố, hơn 80 báo điện tử, hàng nghìn trang tin điện tử và blog… Người dân Việt Nam ngày nay còn được tiếp cận với nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như Roi-tơ, BBC, VOA, AP, AFP, CNN… Tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Trên lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và trong từng chính sách phát triển… tiếp tục hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội… giúp đỡ mọi thành viên xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương…”. Để bảo đảm hành lang pháp lý cho các hoạt động của cơ quan Nhà nước và công dân, nhiều Bộ luật, luật sửa đổi và luật mới được ban hành dựa trên các nguyên tắc: Tôn trọng con người, quyền con người; Dân chủ XHCN; Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm Quốc gia, Việt Nam đã nội luật hóa các công ước quốc tế mà mình đã tham gia. Có thể dẫn ra những luật sau: Luật Bảo vệ sức khỏe người dân năm 1989, Luật Giáo dục năm 1998, Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Bình đẳng giới năm 2011...
Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các Chiến lược và Chương trình phát triển kinh tế-xã hội được triển khai, mức sống của người dân đã có những thay đổi đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người vào năm 1990 khoảng 200USD, đến năm 2010 ước khoảng 1.200USD. Đến nay, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trong việc hưởng thụ thành tựu phát triển, Nhà nước đã có nhiều chương trình kinh tế-xã hội hướng vào nâng cao đời sống của người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Báo cáo của Ủy ban Dân tộc, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006-2010), ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu USD. Từ nguồn vốn trên, Chương trình đã xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trong cả nước, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cụ thể. Với kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ của doanh nghiệp, Quỹ vì người nghèo các địa phương… đến hết năm 2010, các huyện đã cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm tại 62 huyện nghèo với 73.418 căn nhà, đạt 94,58% kế hoạch. Hiện nay, chương trình nhà ở xã hội của Chính phủ đang được triển khai tích cực ở nhiều địa phương nhằm trợ giúp cho công nhân, người thu nhập thấp và sinh viên.
Các quyền tự do cơ bản của con người là mục tiêu lớn, mục tiêu đó như đường chân trời, người ta càng đi đến thì chân trời càng lùi xa. Đơn giản vì nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người ngày càng cao, là không có giới hạn.
Không phủ nhận rằng, hiện nay Việt Nam đang phải đối diện với không ít những vấn đề về kinh tế, xã hội liên quan đến quyền con người, như: Thể chế phân công phối hợp có sự giám sát về quyền lực chưa có hiệu quả như nhiều đại biểu Quốc hội vừa qua đã phát biểu; sự phân hóa giàu nghèo có khuynh hướng gia tăng, thậm chí ngay cả trong Đảng, như đồng chí Tổng bí thư đã nói; hoặc sự hình thành “lợi ích nhóm” trong thời gian qua là những ví dụ…
Tuy nhiên, với việc nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH, với truyền thống cách mạng, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng, Đảng ta sẽ hoàn thành được sứ mệnh lịch sử mà dân tộc đã giao phó - xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. 
PHƯƠNG ANH
(Báo Điện Tử Quân Đội Nhân Dân)
Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp

Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp


QĐND - Với 100% số đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XIII vừa thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc lấy ý kiến nhân dân nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng trên một số diễn đàn vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng cho rằng “việc lấy ý kiến nhân dân chỉ là hình thức” và “Đảng Cộng sản Việt Nam đã độc đoán sửa đổi Hiến pháp”…
Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng của quốc gia. Nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Mục đích của lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm phát huy quyền làm chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; Huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Hiến pháp và việc thi hành Hiến pháp.
Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bao gồm: Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.
Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức như góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác.
Theo kế hoạch ban đầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, dự kiến thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là hai tháng (tháng 3 và tháng 4 năm 2013). Tuy nhiên, do mục đích, yêu cầu và nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, để có đủ thời gian triển khai sâu rộng việc lấy ý kiến trong các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để việc lấy ý kiến nhân dân thực sự chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, tại kỳ họp thứ 4 vừa qua, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề nghị Quốc hội và được Quốc hội nhất trí cao cho phép tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.
Trước đó, tại Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thảo luận, thống nhất cao về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các định hướng lớn, phương châm và phương pháp tiến hành; xác định việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Thông báo của Hội nghị khẳng định: “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng cần được tiến hành chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân”.
Như vậy, cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đánh giá cao vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Thực tế trong lịch sử lập hiến của nước ta, việc xây dựng, ban hành Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (vào năm 2001) đều tiến hành tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Các ý kiến tâm huyết của nhân dân đều được Ban soạn thảo tiếp thu, đưa vào dự thảo.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 được kế thừa kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đây, trong đó có kinh nghiệm quan trọng nhất là phải phát huy đầy đủ và sâu sắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho rằng: “Để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý quan trọng, rộng lớn trong nhân dân và cả hệ thống chính trị, Ủy ban đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”.
Thực tế đã rõ ràng như vậy mà vẫn còn có ý kiến lạc lõng trên một số diễn đàn cho rằng, “việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thay công việc của Quốc hội”…
Ai cũng biết rằng, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là một việc làm bình thường, đúng pháp luật, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước. Thực tiễn cho thấy, nước ta đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và cả 4 lần đều thu được kết quả tốt đẹp góp phần đưa đất nước tiến lên theo đúng mục tiêu đặt ra là nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nghị quyết của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Tổ chức lấy ý kiến nhân dân với các hình thức thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân cả ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực và tiết kiệm. Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác; phải được nghiên cứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện, nâng cao chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến; phản ánh trung thực, kịp thời ý kiến tham gia của nhân dân.
Việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền và biên giới quốc gia của các nước, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ các nước, đồng thời góp phần xây dựng và bảo vệ nền hòa bình của khu vực và thế giới.
Nhân dân Việt Nam hiểu và tôn trọng những thành quả mà Đảng, Bác Hồ và toàn thể nhân dân đã giành được từ trong khổ đau lầm than và nô lệ. Chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cố tình quay lưng lại với con đường cách mạng Việt Nam, cố tình xuyên tạc, nói xấu và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và của nhân dân Việt Nam trong tiến trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị để việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Hiến pháp mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, cần có quy định cấm về hành vi xuyên tạc, bôi xấu trong việc lấy ý kiến. Mọi ý kiến của nhân dân phải được tiếp thu tối đa, chỗ nào tiếp thu cần nói rõ, chỗ nào không tiếp thu cũng cần giải thích rõ để nhân dân hiểu.
ĐỖ PHÚ THỌ
(Báo Điện Tử Quân Đội Nhân Dân)

Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp

Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp


QĐND - Với 100% số đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XIII vừa thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc lấy ý kiến nhân dân nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng trên một số diễn đàn vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng cho rằng “việc lấy ý kiến nhân dân chỉ là hình thức” và “Đảng Cộng sản Việt Nam đã độc đoán sửa đổi Hiến pháp”…
Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng của quốc gia. Nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Mục đích của lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm phát huy quyền làm chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; Huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Hiến pháp và việc thi hành Hiến pháp.
Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bao gồm: Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.
Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức như góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác.
Theo kế hoạch ban đầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, dự kiến thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là hai tháng (tháng 3 và tháng 4 năm 2013). Tuy nhiên, do mục đích, yêu cầu và nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, để có đủ thời gian triển khai sâu rộng việc lấy ý kiến trong các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để việc lấy ý kiến nhân dân thực sự chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, tại kỳ họp thứ 4 vừa qua, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề nghị Quốc hội và được Quốc hội nhất trí cao cho phép tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.
Trước đó, tại Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thảo luận, thống nhất cao về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các định hướng lớn, phương châm và phương pháp tiến hành; xác định việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Thông báo của Hội nghị khẳng định: “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng cần được tiến hành chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân”.
Như vậy, cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đánh giá cao vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Thực tế trong lịch sử lập hiến của nước ta, việc xây dựng, ban hành Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (vào năm 2001) đều tiến hành tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Các ý kiến tâm huyết của nhân dân đều được Ban soạn thảo tiếp thu, đưa vào dự thảo.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 được kế thừa kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đây, trong đó có kinh nghiệm quan trọng nhất là phải phát huy đầy đủ và sâu sắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho rằng: “Để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý quan trọng, rộng lớn trong nhân dân và cả hệ thống chính trị, Ủy ban đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”.
Thực tế đã rõ ràng như vậy mà vẫn còn có ý kiến lạc lõng trên một số diễn đàn cho rằng, “việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thay công việc của Quốc hội”…
Ai cũng biết rằng, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là một việc làm bình thường, đúng pháp luật, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước. Thực tiễn cho thấy, nước ta đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và cả 4 lần đều thu được kết quả tốt đẹp góp phần đưa đất nước tiến lên theo đúng mục tiêu đặt ra là nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nghị quyết của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Tổ chức lấy ý kiến nhân dân với các hình thức thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân cả ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực và tiết kiệm. Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác; phải được nghiên cứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện, nâng cao chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến; phản ánh trung thực, kịp thời ý kiến tham gia của nhân dân.
Việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền và biên giới quốc gia của các nước, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ các nước, đồng thời góp phần xây dựng và bảo vệ nền hòa bình của khu vực và thế giới.
Nhân dân Việt Nam hiểu và tôn trọng những thành quả mà Đảng, Bác Hồ và toàn thể nhân dân đã giành được từ trong khổ đau lầm than và nô lệ. Chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cố tình quay lưng lại với con đường cách mạng Việt Nam, cố tình xuyên tạc, nói xấu và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và của nhân dân Việt Nam trong tiến trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị để việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Hiến pháp mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, cần có quy định cấm về hành vi xuyên tạc, bôi xấu trong việc lấy ý kiến. Mọi ý kiến của nhân dân phải được tiếp thu tối đa, chỗ nào tiếp thu cần nói rõ, chỗ nào không tiếp thu cũng cần giải thích rõ để nhân dân hiểu.
ĐỖ PHÚ THỌ
(Báo Điện Tử Quân Đội Nhân Dân)

Copyright © 2012 The Best Template Blogger All Right Reserved